|
|
Tư cách
chính thống của trí thức Việt Nam
Phạm Thị Hoài
Kỳ 1
(Lời Ṭa soạn Cánh Én:
Bài viết dưới đây
của nhà văn Phạm Thị Hoài - diễn giả chính
trong cuộc toạ đàm tại Berlin vào tháng 10-2000. Do ghi
lại từ băng ghi âm nên có thể có thiếu sót,
rất mong tác giả và độc giả lượng
thứ. Được sự đồng ư của nhà văn
Phạm Thị Hoài, Cánh Én xin trân trọng giới thiệu
đến bạn đọc của ḿnh. Do khuôn khổ
tờ báo số trang có hạn, bài viết quá dài, chúng tôi
buộc phải đăng thành 2 kỳ.)
Thưa
các bác, các anh, các chị:
Vấn
đề tôi muốn đặt ra ở đây rất
đơn giản và tôi xin những vị có ư chờ
đợi ở một nhà văn những tư
tưởng rất cao siêu, phức tạp thể tất
chọ
Tất
nhiên là tất cả các vấn đề của hiện
thực Việt Nam đều rất phức tạp.
Nhưng tôi nghĩ rằng: Cái cách mà dễ dàng nhất, cái
cách mà láu lỉnh nhất để khỏi phải
đối mặt với cái hiện thực này chính là làm
cho nó phức tạp hơn bản thân nó. Mà văn nghệ
sĩ và trí thức Việt Nam có một căn bệnh
trầm kha là: khi sự vật dường như không
thể giải quyết nổi theo các tiêu chí của nho giáo,
hiệp sĩ hay chiến sĩ th́ nó lập tức
được nh́n theo nhăn quang của phương sĩ,
hay đạo sĩ và đấy là một thứ nhăn quang
tất nhiên là rất vô cùng thú vị và vô cùng phức
tạp. Thú vị và phức tạp tới cái mức nó cho
phép người ta có thể mải mê trong chính nó, và bản
thân cái hiện thực chỉ là cái cớ rất là
phụ. Nhưng chúng ta sẽ trở lại cái hiện
thực này ở một đoạn sau và bây giờ tôi
chỉ xin nói trước là: trong buổi tối hôm nay chúng
ta sẽ cố gắng giản dị và sáng tỏ trong suy
nghĩ của ḿnh.
Xuất
phát điểm của vấn đề mà tôi muốn
đặt ra cũng rất là giản dị, trước
sau ít nhất là 2000 năm, có một dân tộc Việt,
một văn hoá Việt, một quốc gia Việt và sau
ít nhất là 200 năm có một lănh thổ Việt như
ngày nay, th́ nước ta vẫn là một nước nghèo
và lạc hậu vào hạng nhất thế giớị
Nhưng vấn đề không phải chỉ là ở
chỗ nghèo và lạc hậu, nếu chỉ có như
vậy th́ tôi c̣n chưa thấy có ǵ là đáng sợ
lắm. Cái vấn đề, một là ở chỗ là
chưa bao giờ chúng ta như thế. Từ khi tôi sinh ra
đă là như vậỵ Từ khi cha mẹ, ông bà tôi sinh
ra đă là như vậỵ Từ khi các cụ tôi sinh ra
cũng là như vậỵ Khi các kỵ tôi sinh ra th́
thế giới lúc đó chỉ là Trung Hoa và Ấn Độ
thôi, nhưng bảng xếp th́ vẫn thế không có ǵ thay
đổi cả. Nước Hy Lạp chẳng hạn là
một nước hiện nay đang nghèo nhất cộng
đồng Châu Âu, nhưng không phải bao giờ cũng
thế. Nước Nga cũng đang vô cùng bê bối,
nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chỉ có
nước Việt là chưa bao giờ như thế mà
thôị Tôi thậm chí không dám nghĩ tiếp rằng là khi
cháu tôi hoặc chắt tôi sinh ra th́ chúng ta vẫn không thoát
được cái kiếp đội sổ như
vậỵ Sở dĩ tôi phải nói hơi dài về
vấn đề này v́ nó là một yếu tố quan
trọng trong việc h́nh thành tính cách rồi tư cách
của người Việt nói chung và người trí
thức Việt nói riêng. Ta hăy h́nh dung, nếumột anh
học tṛ đi học trong cả suốt cuộc
đời của ḿnh không bao giờ không đứng
cuối lớp, nó là một cái "dớt" không thay
đổi, th́ đến một lúc nào đó ư chí phấn
đấu của anh ta (nếu như anh ta có một ư chí)
cũng phải tiêu tan. Thứ hai nữa, là nếu mà câu
chuyện chỉ dừng lại ở một nước
nghèo và lạc hậu mà thôi, th́ tôi cho rằng tất nhiên
vẫn là một câu chuỵện buồn nhưng chưa
đến nỗi bi đát và vô vọng bởi v́ chỗ
này, tôi cũng xin nói thẳng là chúng ta đang sống ở
một nước không nghèo và không lạc hậu tí nào là
nước Đức. Chúng ta có thể nói rằng sự giàu
có và văn minh tiến bộ cũng đẻ ra nỗi
sầu rất đặc trưng của nó, chứ không
phải chỉ có riêng nghèo và những điều bi đát
lạc hậụ mà chúng ta vẫn thấy là thưồng
xuyên có những công dân của cái thế giới văn minh
và giầu có này t́m cách giải toả những nỗi
sầu của ḿnh bằng cách giải toả tất
cả những cái bi kịch của sự thừa thăi
của vật chất cũng như là sự tiến
bộ với một cái tốc độ rất là nhanh
chóng của cái xă hội hiện đại của họ
bằng cách là t́m về những cái xă hội c̣n mông
muội, c̣n văn khai c̣n nghèo khó và coi đó là những câu
trả lời nhất định, là một cái thứ
(?...) tất nhiên là chúng ta có thể mỉm cười và có
thể coi đó là một cái thứ lăng mạn, một cái
căn bệnh quí phái, nhưng mà chúng ta không thể bác
bỏ nó đựơc, chỉ có điều là hiện
thực Việt Nam thậm chí không phải là cái chỗ
thích hợp để cái thế giới thứ nhất
đó chữa chạy những cái căn bệnh quí phái
của ḿnh bởi v́ ngoài cái nghèo và lạc hậu, th́
đến đầu thế kỷ 21 này xă hội Việt
Nam c̣n là chỗ hội tụ của những dịch
bệnh nhường như vô phương cứu chữa
khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm. Đối
với tôi, tôi đặt tên khái niệm đó là sự
bất an. Với tôi một nhà văn th́ đương nhiên
sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối quan
tâm chính. Theo cách nh́n của tôi, th́ sức mạnh của
một xă hội là khả năng đem lại cho các thành
viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất định,
người ta có thể nghèo nhưng nếu mà người
ta có được một cảm giác an tâm nhất
định, điều đó quan trọng hơn. Nếu
không có cảm giác ấy th́ người ta chỉ có thể
miễn cưỡng sống tạm cuộc đời
của ḿnh và đương nhiên không có một động
cơ nào đủ mạnh để sống tiếp
cuộc đời của những thế hệ
trước, sống trước cuộc đời
của những thế hệ sau và sống chung cuộc
đời của những kẻ cùng thời. Nói như
thế th́ xă hội Việt Nam là một tập hợp
tạm bợ, rời rạc và hoàn toàn không hữu cơ.
Có những cá nhân hoang mang và bất ổn. Về xuất
phát điểm là như vậy, vấn đề
đặt ra là trong cái số phận dường như là
vĩnh viễn hẩm hưu đó của ta (?..) th́
người trí thức tham dự như thế nàỏ Nói
một cách khoa trương và có lẽ là tương
đối sáo th́ người trí thức Việt Nam
chịu trách nhiệm ǵ về cái số phận chung ấy
của cả một dân tộc. Cho đến nay, chúng ta
đă nghe, có thể là đă nghe đến thuộc ḷng
rồi, những lời đáp vô cùng rơ ràng về cái
việc này 'Việc v́ ai ? do ai ?' mà nước ta đáng
buồn như vậỵ Có hai câu trả lời rơ như
ban ngày: Một là do khách quan, hai là do chủ quan.
"Thằng
khách quan", tôi phải xin lỗi là phải dùng tờ
như vậy. Bởi v́ trong tiếng Việt th́ kẻ có
tội rất to như thế phải bị gọi là thằng.
Thằng khách quan nó có vô số cái hoá thân và điều
kiện gọi tên rất rành mạch, lúc th́ đó là
thằng lịch sử, lúc th́ đó là thằng bối
cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng t́nh h́nh chung, lúc th́
đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù
địch, thằng đế quốc, thằng thiên tai
địch hoạ. Nếu mà nghe như vậy th́
người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan
đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta
cả. Như vậy th́ chả có lư do ǵ hy vọng và
chả có một cuộc toạ đàm nào cần thiết
nữa cả. Và nếu có ai mà tin vào những lời tiên
đoán của ông giáo sư Thover và ông giáo sư Haustinton,
trong cuốn sách cách đây mấy năm rầm rộ là
cuốn Cuộc Chiến Văn Hóa rằng Việt Nam
sẽ là địa bàn xung đột để Chiến
tranh Thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung
Quốc sẽ xẩy ra th́ quả nhiên là chúng ta đáng tuyệt
vọng hoàn toàn.
Về
chủ quan, người Việt Nam không có truyền
thống đem cả một dân tộc ra mà tự phê b́nh.
Một trong những lư do v́ sao lại làm như vậỷ
Cũng là ở chỗ khi người ta khi người ta
đă suốt cả một số phận luôn luôn là
đội sổ rồi th́ ḷng tự tin chẳng c̣n ǵ là
lớn lắm. Đấy là tôi muốn nói đến một
ḷng tự tin thực sự, chứ không phải là cái
thứ tin theo kiểu (vừa đánh vơ mồm vừa run trong
ḷng), hoặc là thứ tự tin lưu manh, cứ kích nhau
lên để nhằm vụ lợi cho ḿnh. Rơ ràng là tự
phê b́nh đ̣i hỏi một cái ḷng tự tin lớn. Tôi
cứ nh́n cái cách tự tra vấn ḿnh, tự hành hạ,
tự truy tội, tự xỉ vả ḿnh của một
dân tộc như dân tộc Đức này mà phải nhận ra
rằng: Đó là một dân tộc đă đạt
được nhiều thành tựu đến mức nào
mới làm cái việc cũng rất ư là quư phái là tự
phê b́nh ḿnh như vậỵ Như vậy th́ dân tộc
Việt trọn gói th́ không có lỗi ǵ đáng kể,
nhưng một bộ phận, một bộ phận
đầu sỏ của nó th́ bao giờ cũng luôn luôn là
đầu mối của mọi tai họa, bộ phận
đó như chúng ta được thường xuyên nghe
nói, bao giờ cũng là chính quyền, là lực
lượng thống trị. Lúc th́ là 'chính quyền Bắc
thuộc', lúc th́ là 'vua quan nhà Nguyễn chịu trách
nhiệm', lúc th́ 'chính quyền thực dân Pháp chịu trách
nhiệm', lúc th́ là 'bè lũ lính Ngụư và bây giờ không có
chính quyền nào khác hơn là chính quyền Cộng sản,
th́ chính quyền Cộng sản chịu trách nhiệm.
Bảo đúng th́ tất nhiên là đúng. Nhưng như
vậy có kỳ cục lắm hay không, chẳng lẽ
nạn đói triền miên năm 1945 xẩy ra là do phong
kiến thực dân, c̣n bây giờ nạn đói xẩy ra là
do Cộng sản hay sao, chẳng lẽ cái thói chạy
chọt, vây cánh, cửâ quan, cửa quyền, bợ
đỡ... rất nổi tiếng từ thời cụ
Ngô Tất Tố cũng tại Cộng sản hay saỏ
Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả
một thế kỷ 15 chỉ được một ông
Nguyễn Trăi, cả một thế kỷ 16 hầu như
toàn là nhạt nhẽo và trung b́nh cả th́ cũng tại
Cộng sản hay saỏ Một trong những nhà phê b́nh
văn học sắc xảo nhất của Việt Nam
ở hải ngoại, anh Nguyễn Hưng Quốc,
hiện là giảng viên của trường Đại học
Victoria tại Úc, cách đây 10 năm có viết một
cuốn sách nhan đề là Văn Học Việt Nam
Dưới Chế Độ Cộng Sản. Trong đó anh
đi t́m câu giải thích cho t́nh trạng kém cỏi tẻ
nhạt của văn học miền Bắc. Trong những
vấn đề của chế độ Xă hội
chủ nghĩa và hệ thống lư luận Mác-xít. Điều
đó tất nhiên là có nhiều phần đúng, nhưng
chưa đủ, những năm sau này anh Nguyễn
Hưng Quốc đi đến một nhận xét hết
sức khổ tâm là văn học Việt Nam ở Hải
ngoại tồn tại ở các chế độ dân
chủ, tự do hoàn toàn không hề dính líu ǵ đến
hệ lư luận Mác-xít, hệ kiểm duyệt Cộng
sản, hoàn toàn không có liên quan ǵ đến bộ máy tuyên
truyền chính trị chính thống, nhưng cái văn
học ấy không khá ǵ hơn tŕ trệ, lạc hậu,
bảo thủ và tẻ nhạt. Tất nhiên là tẻ
nhạt theo một kiểu khác. Vậy lời đáp
nằm ở đâu ?
Việc
phê phán cái xă hội nghèo đói, loạn tặc, nhiễu
nhương, tạm bợ, không có phương
hướng ở Việt Nam, tất nhiên gắn tới
việc phê b́nh chính quyền lănh đạo. Thế vậy
cái xă hội của người Việt ở ngoài nước,
tại cộng đồng Hải ngoại không có mặt
sự lănh đạo của chính quyền Cộng sản
mà cũng đủ những phẩm tính tương tự
th́ chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào ? Rơ ràng có
những vấn đề thuộc về văn hoá
Việt Nam, những vấn đề nghiêm trọng không
thể qui vào một chính thể, tập đoàn hay
đảng phái thống trị nào, nó là những hằng
số xuyên suốt cả số phận dân tộc Việt
Nam, bắt đầu thậm trí từ Lạc Long Quân,
nếu như có ông ấy và bà Âu Cơ và nếu đă
mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét th́ có
thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đă gặp
một thành phần không thể không gặp, đó là trí
thức Việt Nam. Bản thân tôi không dám làm cái việc là:
điều tra số phận dân tộc, đi t́m
'tướng' cái phần dính líu của cá nhân. Người
Việt trí thức hay không trí thức th́ cũng thế
thôi. Nói chung nhiệm vụ nhà văn của tôi là không
phải đổ trách nhiệm cho ai cả. Vả lại,
trong bất kỳ t́nh huống th́ việc trả lời ai
có tội, ai có lỗi là không thể giải đáp trọn
vẹn được. nhưng mà việc tất yếu mà
một nhà văn phải làm ở thời nào cũng
thế là khám phá và nếu có thể là khám phá những khía
cạnh mà anh ta cho rằng c̣n mờ khuất của con
người và cuộc đời. Nhưng không một nhà
văn nào khi làm việc đó mà có thể ôm đồm
cả thế gian mà quan sát và khám phá được. Bản
thân tôi là do gia đ́nh và môi trường sáng tạo, môi
trường sống môi trường sáng tác, môi
trường làm việc nên không thể nào làm một
việc ǵ khác hơn là quan sát và khám phá giới trí thức.Tôi
không có thẩm quyền ǵ để có thể phát biểu,
chẳng hạn về tư cách của người nông dân
hay thợ thuyền Việt Nam cả. Tôi không có một
hiểu biết ǵ đáng kể về những
điều đó. Song giới trí thức Việt Nam là
chủ đề của hầu hết các sáng tác của
tôị V́ vậy mà có một buổi nói chuyện như
thế nàỵ Tôi không nghĩ rằng ḿnh có thể vạch
ra được một đường hướng nào.
Việc chung nhất mà tôi có thể thử làm là khắc
hoạ diện mạo của giới trí thức Việt
Nam. Bản thân cái việc này là một đề tài mà
một cá nhân không thể nào kham nổị Hôm nay tôi
thử tŕnh bày về hai tư cách, mà theo tôi là đáng
để ư, đó là: "Tư cách chính thống" và
"Tư cách học tṛ".
Bây
giờ phải xin nói trước để chúng ta có
thể dễ đồng ư với nhau về khái niệm là
một định nghĩa hoàn hảo về trí thức rơ
ràng là không thể có được, ngay cả với
những hoàn cảnh c̣n tương đối dễ bao
quát như hoàn cảnh Việt Nam. Chúng ta tạm quy
ước với nhau là khi nói tới giới trí thức
Việt Nam ở đây là nói tới những người
mà do học thức tŕnh độ, môi trường
sống, thói quen hoặc thậm chí do ngẫu nhiên cũng
được, mà hoạt động trí tuệ và tinh
thần là thường trực, chủ yếu hoặc
đóng vai tṛ đáng kể.
Bây
giờ tôi xin nói về tư cách Chính thống của trí
thức Việt Nam.
Một
người bạn vong niên của tôi ở Hà Nội, ông
Nguyễn Kiến Giang, gần đây có đưa ra một
khái niệm là "Tính cách pḥ chính thống của trí
thức Việt Nam". Tôi th́ gọi đó là tư cách quan
văn, theo cái mô h́nh trị nước là một ông vua có thể
u mê, có thể anh minh hai bên tả hữu là quan văn và quan
vơ. Tôi gọi tư cách chính thống của trí thức
Việt Nam này là "Tư cách quan văn". Chúng ta hăy xem
lại lịch sử, nếu như bỏ qua cái thời
kỳ mông muội khi người săn bắt giỏi
nhất, bắt cá khéo nhất, thắng nhiều cuộc
vật nhất và có thể có nhiều con nhất bởi v́
được nhiều đàn bà ái mộ nhất; một
người như thế được đứng
đầu cộng đồng Việt. Nếu chúng ta
bỏ qua thời kỳ đó th́ chúng ta có ngay mười
mấy thế kỷ toàn trị của giới có học.
Khi đó là giới sĩ, một thời gian dài là giới
tu sĩ, sau đó tuyệt đối là giới nho sĩ.
Chế độ khoa cử với một cái chức
năng là chế độ đào tạo và tuyển
chọn cán bộ nhân viên nhà nước, đă tự
động ghép học thức, tri thức và quyền
lực thành một cặp bài trùng. Tri thức vừa là con
đường dẫn đến quyền lực và
vừa là cách thực hiện quyền lực. Không có ǵ
để nghi ngờ nữa là giới sĩ phu Việt Nam
trong lịch sử là giới cầm quyền, hay ít
nhất cũng là giới thừa hành quyền lực. Nói
theo từ hiện đại là toàn bộ guồng máy nhà
nước Việt Nam trong lịch sử nằm trong tay
các tri thức nho giáo. Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là
cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên
được ca ngợi rằng "Người Việt
Nam hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ yêu
thầy". Theo tôi một phần cũng rất đáng
kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị
và trọng quyền lực. Nếu mà chữ nghĩa mà
không mở ra được một triển vọng
thơm tho như vậy, một người đi học
thi đỗ làm quan th́ cả họ được
nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc
chắn là sẽ giảm đi đáng kể. Sau cái câu
chuyện "Pḥ chính thống", câu chuyện "Quan
văn" câu chuyện quan văn chỉ dừng lại
khi nho học thất thế. Công bằng mà nói th́ ở một
gia đoạn ngắn của lịch sử, tức là
ở đầu thế kỷ 20, trong cả nước
từ năm 1945, đến năm 1975 ở miền Nam có
một cơ hội để cặp bài trùng tri thức và
quyền lực có thể tách nhau ra được và
quả thực cũng có tách nhau ra phần nàọ Nhưng
đấy là một khoá học tiếc thay là rất
ngắn, quá ngắn để giới trí thức Việt
Nam thoát ra khỏi cái ṿng kiềm toả bằng quyền
lực chính trị để trở thành một lức lượng
độc lập như giới trí thức ở các xă
hội dân chủ hiện đại. Chúng ta có thể coi
những vận động cải cách dân trí và dân chủ
ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 độc
lập với cái chính quyền nửa phong kiến và
nửa thực dân đương thờị Và quả
nhiên có một tầng lớp trí thức văn nghệ
sỹ tự do, tức là không ăn lương của nhà
nước, không hưởng bổng lộc của chính
quyền, không phải là các công chức, viên chức trong
bộ máy cai trị. Một tầng lớp như vậy
quả nhiên là có xuất hiện, điều này cũng
lặp lại ở miền Nam trong khoảng từ năm
1954 đến 1975. Thế nhưng lịch sử đă
quyết định diễn ra theo chiều hướng là
tự lặp lại. Bi kịch của một
người như Phạm Quỳnh, trí thức xuất
thân hoàn toàn độc lập có đủ mọi cơ
hội và đủ mọi uy tín để tồn tại
như một tiếng nói, một uy tín tinh thần, một
trọng lượng xă hội độc lập hẳn
hoi nhưng cuối cùng cũng không vượt qua nổi
sự mê hoặc của quyền lực chính thống.
Tất nhiên là Phạm Quỳnh trở thành Thượng
Thư Bộ Lại ở trong triều Nguyễn với
một hy vọng là mượn những phương
tiện chính trị để mà hành cái đạo của
ḿnh. Thế nhưng, ông Tây học Phạm Quỳnh vậy
là cũng hành động không khác ǵ ông Khổng Tử.
Khổng Tử chả làm được điều ǵ khi
c̣n đang tại chức, Khổng Tử chỉ có đánh
xe đi bát phố, nghe nhạc và b́nh phẩm về đàn
bà, về cách họa đàn bà là đúng hơn khi tại
chức. Và Phạm Quỳnh cũng chả làm
được ǵ cho cái đạo của ḿnh trong suốt
thời gian làm Bộ trưởng như vậy, và
Phạm Quỳnh có lẽ cũng c̣n lâu mới là
người trong giới trí thức vừa ghét quyền
lực và vừa phục vụ quyền lực như
vậy. Từ năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam
và đến năm 1975 ở trong hoàn cảnh đất
nước th́ có thể nói rằng là câu chuyện của
cặp bài trùng trí thức và quyền lực lại
được kể tiếp với những t́nh tiết
thực ra là giống hệt ở trong lịch sử.
Chỉ có pha thêm những màn gay cấn đặc trưng
của cái thời đại này mà thôi. Tôi cho rằng
chỉ có những người rất ưa sơ
đồ hóa hiện thực mới cho rằng trong xă
hội cộng sản hay xă hội chủ nghĩa không có
chỗ cho trí thức. Không phải như vậy nó chỉ
không có chỗ cho các trí thức bất đồng quan
điểm, bất đồng tư duy mà thôi. Một xă
hội của đồng chí tất nhiên không trải
chiếu hoa cho những kẻ bất đồng chí.
Nhưng điều đó không có ǵ là mới mẻ, không phải
là đặc sản riêng của chuyên chính vô sản, mà
của bất kỳ nền chuyên chính nàọ Một trí
thức từng là đồng chí như Nguyễn Trăi khi
thành bất đồng chí tất nhiên cũng phải
chịu cái cảnh "Chu di tam tộc". Và một nhà
văn tài hoa từng được coi là thần
tượng của sự ngông nghêng, thách thức như
Nguyễn Tuân; thực ra cũng có thể so với
Nguyễn Du; bất măn th́ có bất măn, bất đồng
th́ có bất đồng nhưng cả hai th́ dù có miễn
cưỡng hay tự nguyện cuối cùng cũng
để cho chính quyền trọng dụng ḿnh. Nguyễn
Du th́ đóng vai đại sứ đi công cán ở
nước ngoài - một chức vụ thực sự là
không thấp hèn ǵ. Nguyễn Tuân th́ cũng vậy. Hồi
sinh viên tôi thường tự hỏi: Tại sao lại
như thế? Phải tay tôi th́ không bao giờ chịu
để ḿnh ở cái thế "há miệng mắc
quai" như vậy thế; nhưng v́ tôi c̣n chưa
hiểu về cái thế "Pḥ chính thống", cái
thế quan văn của trí thức Việt Nam, một cái
thế quả nhiên là rất "há miệng mắc
quai".
Cuộc
cách mạng vô sản ở Việt Nam, thực ra là một
cuộc cách mạng hoàn toàn là do giới trí thức lănh
đạo c̣n quần chúng cách mạng th́ thời nào
cũng vậy là đám đông, và đám đông trong
một nước nông nghiệp là tất nhiên là nông dân.
Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách
mạng do một nhóm trí thức lănh đạo một
đám nông dân tranh đấu cho quyền lợi của
một giai cấp khác, đó là giai cấp công nhân. Nếu
chúng ta nói như vậy th́ việc các quyền lợi
dẫm lên nhau, sự không đồng bộ của nhân
sự và khả năng phản bội của những bên
tham gia đă được định trước.
Tuy
nhiên, ở đây tôi chỉ tôi chỉ muốn nói sự
tham gia của trí thức Việt Nam ở buổi ban
đầu của cuộc cách mạng, rồi khi cách
mạng quay ra "ăn thịt" những đứa
con đẻ của ḿnh và bây giờ th́ rơ ràng là cách
mạng đă về hưu. Mối t́nh của chủ
nghĩa cộng sản và trí thức nhất là trí thức
cánh tả trên toàn thế giới là một mối t́nh
phức tạp, đẫm nước mắt và
đẫm máụ Nhưng tôi dám nói rằng chính cái cuộc
t́nh hết sức lăng mạn và nồng nhiệt của
giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam
thuở ấy đă chắp cánh cho cách mạng khiến cho
nó không chỉ là cuộc khởi nghĩa nông dân, bạo
động của thợ thuyền.
Điều
ǵ diễn ra khi cách mạng không chỉ c̣n là một ư
tưởng và một lư tưởng mà đă trở thành
một hiện thức một chế độ, một
guồng máy khổng lồ. Tôi xin trích ra ở đây
một vài ḍng nhật kư của Trần Dần năm 1958
vào cái thời điểm mà người ngoài tưởng
là sự nổi dậy trong văn giới Việt Nam
được biết đến dưới cái tên
"Nhân văn Giai phẩm" c̣n rất là sôi sục. Ông
ghi ngày 08-01-1958 như sau:
"Tin
chạy x́ xầm xung quanh rất là ghê gớm, rằng Báo
Văn là một cái "dớt" của Nhân Văn,
rằng Nhà xuất bản Hội nhà văn bị lái,
rằng Câu lạc bộ thành nơi hoạt động
của bọn Nhân Văn, chúng ra tay chèo lái một cách tinh
vi. Sự thật ra "bọn Nhân Văn 2 ấy non
năm nay họ đă theo một cái chính sách ǵ? Có thể
tóm chính sách của họ là: "Sợ - Cầu an - Cố
đi gần lănh đạo - Dao động chán nản -
một ngón tay Nhân Văn cũng không có". Non năm nay
họ đă nằm bẹp cả xuống vắt tay lên suy
nghĩ các nhà hiền triết cả rồi, họ c̣n cái
khao khát chiến thắng của những người
tiến bộ nữa đâu. Nói đúng ra họ vẫn
mong đợi sự tiến bộ sẽ thắng, song
họ sẽ mong nó thắng bằng cách ích kỷ, tức
là bằng bàn tay thúc đẩy của kẻ khác hơn là
bàn tay họ, như vậy đỡ nguy hiểm hơn.
Giá lănh đạo thuyết phục, họ sẽ có cơ
giác ngộ trở nên con nhà nết na nữa cũng nên,
đằng này lănh đạo cứ cái chính sách ụi
thục vô lư măi, họ càng tủi thân và thất vọng.
Tôi biết họ chỉ mong một điều là: Mong thánh
đế hồi tâm" .
Những
ḍng ấy được viết ra do một trong những
người cứng cổ nhất trong "Nhân Văn-Giai
Phẩm" là Trần Dần, tôi xin lưu ư những khái
niệm như "Cố đi gần lănh đạo - Lănh
đạo thuyết phục - Mong "Thánh đế
hồi tâm". Tôi cho rằng không cần phải nhiều
lời nữa để mô tả cái tính cách "pḥ chính
thống" này của văn nghệ sĩ Việt Nam.
Nếu có một trí thức thực sự ly pha với
quyền lực, ly pha với quyền lực không lấy
ǵ làm đẹp đẽ lắm của chế độ
cộng sản th́ phải có mười trí thức đang
nằm chờ ngày "Thánh đế hồi tâm" và có
một trăm trí thức không làm ǵ khác hơn là để
cho cái chính quyền ấy trọng dụng ḿnh.
Mao
Trạch Đông trong bài nói chuyện nổi tiếng ở Thiên
An có tuyên bố thẳng thừng: "Trí thức là cục
phân", nhưng người am hiểu hiện thực
của Chủ nghĩa xă hội phải nói: "Trí
thức là cục vàng" - những cục vàng ấy là báu
vật nằm trong tay những nhà cầm quyền. Ở
một địa vị như vậy th́ có lư do ǵ
để mà thay đổi! Người ta có thể
gọi đó là cái hèn, cái nhu nhược, cái cầu an, c̣n
tôi gọi đó là cái "nghiện", "nghiện chính
thống". Nghiện suốt cả một lịch
sử th́ không dễ ǵ một vài ngày mà cai ngay
được. Người nghiện th́ ít khi trách cái
sự nghiện của ḿnh mà có chăng chỉ đổ
tội cho cái làm ḿnh nghiện. Chúng ta phải buộc ḷng
đi đến một kết luận: Khi tự
đồng nhất ḿnh ở mức độ cao như
vậy với giai cấp thống trị, bất kể là
giai cấp cao như thế nào th́ cái bộ phận ưu
tú nhất của dân tộc Việt Nam là trí thức
Việt Nam mặc nhiên phải đánh mất cái thôi thúc
cải thiện thay đổi xă hội. Một ông tri
thức trong đám nho giáo làm quan tất nhiên là không bao
giờ nảy sinh ra sáng kiến xóa nạn mù chữ trong
đám dân đen. Bởi lẽ ông ta chỉ hơn họ có
mấy trăm chữ ở trong bụng. Một ông phụ
trách trong Ban Văn hóa-Văn nghệ tất nhiên là không
khuyến khích ǵ những thứ thơ văn mới
lạ, bởi lẽ nếu thiên hạ mà đi say mê
thứ văn thơ mới lạ đó th́ thơ ông ta ai
đọc? Kinh nghiệm của chính bản thân tôi ở
trong nước, với tư cách là một nhà văn
hiện nay không được phép công bố tác phẩm
ở trong nước là: Chưa có một "ông
Đảng" hay một "ông Công an" nào có cơ hội
đọc duyệt tác phẩm của tôi cả. Bởi v́
sao ? Bởi, trước khi các vị đó xem đến
bản thảo của tôi th́ các đồng nghiệp
của tôi ngồi ở những chức vị rất
nhiều quyền lực đă kiểm duyệt hộ chính
quyền từ khuya rồi!
Kỳ 2
Bây
giờ tôi xin nói đến tư cách học tṛ của trí
thức Việt Nam.
Thực
ra dân tộc Việt không phải tiếp xúc với
những kẻ đến từ nên văn minh cao hơn và
mạnh hơn hẳn. Láng giềng của nước Viêt
một thuở như chúng ta đă biết là: Chiêm Thành, Ai
Lao, Phù Nam, Khơme, Chiêm La, Xiêm La, Chà Và, Nhật Bản;
đương nhiên là người Việt cũng tiếp
thu điều này, điều nọ trong quá tŕnh giao lưu
với họ. Thế nhưng chúng ta có thể lấy
hẳn của người Chiêm Thành một giống lúa
chiêm mà chả buồn học hỏi ǵ nhiều ở
văn hoá và ngôn ngữ của họ. Chúng ta lấy
biết bao điệu nhạc buồn của họ vào
chính cái quan họ Bắc Ninh nổi tiếng. Chúng ta đă
khiến cho cái làn điệu dân ca đó trở nên buồn
nhất trong các làn điệu dân ca của miền Bắc
nói chung, lúc đó miền Bắc là cái nôi văn hoá và lúc
đó Việt Nam chỉ dừng lại ở miền
Bắc. Chúng ta lấy của họ như vậy mà
chả buồn học hỏi điều ǵ ở họ,
không buồn nghiên cứu chút ǵ về họ và thậm chí
dường như chúng ta chôn phắt họ đi không
tiếc nuối ǵ hết. Như vậy ở một cái
thế của kẻ mạnh hoặc ít nhất ở cái
thế của kẻ bằng vai th́ người Việt
chẳng thèm học hỏi ai cả, chẳng buồn
ngưỡng mộ ai cả. Thế nhưng khi ở cái
thế của kẻ yếu, của kẻ bị chinh
phục, bị khinh bỉ, bị nhục nhă th́ sự
học hỏi của chúng ta mới vội vă bắt đầu.
Tôi biết trong một tác phẩm về việc
người Việt chẳng có ai buồn học biết
Nhật như sau: "... người Nhật chiếm
nước này chưa đủ dài để người
nước này thèm tiếng Nhật, nỗi nhục chưa
ngả th́ ḷng yêu".
Cái
sự học của trí thức Việt Nam trong cái
giằng xé giữa một bên là nỗi nhục một bên
là ḷng yêu là một sự học đầy mâu thuẫn,
thậm chí có thể nói là bệnh hoạn đầy
những đau khổ mà bản thân tôi có thể chia sẻ
nhiều phần. Ta hăy lấy ví dụ về việc
học này qua cách sáng tạo chữ viết. Cả
người Việt lẫn người Nhật
đều không có chữ viết riêng. Trung Hoa th́ lại có
chữ viết, nhưng Trung Hoa lại không băng qua
biển mà mang chữ viết đến cho người
Nhật. Và nói chung th́ Trung Hoa là một nước lục
địa họ tin ở con ngựa hơn con thuyền,
một cái từ mà chúng ta gán cho họ dùng để
chỉ họ là người "Tầu" thật ra
chả đúng tư nào, họ là dân tộc không liên quan
đến tầu bè. Trung Hoa rơ ràng không băng qua biển
để cưỡng bách người Nhật phải
học sách Tầu và viết chữ Tầu, mà chính là
người Nhật đă tự động băng qua
biển đến Trung Hoa rồi khuân một ít văn hóa
Trung Hoa, trong đó có chữ viết về nhà họ
để dùng "tạm" trong lúc c̣n thiếu thốn.
Cái thái độ đi học của người Nhật
như vậy là thái độ chủ động tích
cực và có sự ṣng phẳng của nó, cần th́
đọc, thích th́ đọc, hoàn toàn là tự nguyện.
Và một khi người Nhật đă mất công lặn
lội như vậy để khuân về nhà từng
ấy bộ chữ Trung Quốc th́ họ cũng dùng
hết, không vứt đi đâu bộ nào cả. Tất
nhiên, không phải ngày một ngày hai, nhưng sau trên
dưới khoảng mười thế kỷ sau nhiều
thất bại th́ người Nhật cũng dùng
được bộ chữ Trung Quốc trong việc ghi
lại tiếng Nhật. Chữ Nhật ra đời và
trụ được cho đến ngày nay trên cơ
sở bộ chữ Tầu giản tiện. Một
người Nhật biết tiếng Tầu th́ rất
đáng quư, thế nhưng nếu không biết th́ họ
vẫn có khả năng dùng tốt chữ Nhật của
họ. Họ đă thành công trong việc đi học
ở nước ngoài và làm ra được cái mà họ
chưa có. Họ là hạng học tṛ ngoại lệ.
C̣n
việc sáng tạo chữ viết của người
Việt diễn ra như thế nàỏ Người
Việt chúng ta chẳng cần lặn lội sang Tầu mà
học hỏi ǵ cả, mà chính là người Tầu mang
một núi khí giới, một rừng người
đến trước, rồi sau đó khuôn một ḥm sách
sang sau. Dĩ nhiên là người Việt vừa học
vừa chửi, giống hệt như vừa học
vừa chửi người Pháp, vừa học vừa
chửi người Liên Xô, vừa học vừa chửi
người Mỹ. Cái sự vừa học vừa
chửi này nó biến thiên qua nhiều cấp độ và
tuỳ vào diễn biến và triển vọng trong mối
quan hệ giữa thầy và tṛ. Ở trong dân gian cái thái
độ lưỡng phân này thường bùng nổ
chỉ ở thời gian đầu và sau đó th́ có
thể nói là cái ǵ của ta sẵn có, cái ǵ mà nó bắt ta phải
học dần dần cũng đồng hoá vào nhau ở
cấp độ dân dă đôi khi không phân biệt nổi
xuất xứ nữạ Thí dụ như nói dến ông
Bụt chẳng hạn, nào ai c̣n rạch ṛi rằng
đấy là một "ngoại kiều" Ấn
Độ mà tên phải gọi là Budda cơ, nào có ai phải
rạch ṛi đến thế đâụ Nhưng trong
giới trí thức th́ cái thái độ lưỡng phân kia
là cả một tấm bi hài kịch có pha đầy phi lư,
những điều trái khoáy, những pha nực
cười và tất nhiên là rất nhiều pha rất là vô
duyên. Với giới trí thức Việt Nam th́ chỗ này có
sự rạch ṛi của nó. Cái học thuyết của ông
Bụt không mang tên là Bụt giáo mà mang tên là Phật giáo,
bởi lẽ giữa chữ Bụt và chữ Phật có
một khoảng trống, và trong khoảng trống ấy
là ông thầy Trung Hoạ Việc người Việt luôn
có những kẻ thù mạnh và giỏi hơn ḿnh nên
người Việt buộc phải tiếp thu cái nền
văn minh của kẻ thù, viêc ấy vừa là một
bất hạnh vừa là một diễm phúc. Rơ ràng là trên
đời chả có cái ǵ là không có ít nhất là hai mặt
của nó, chỉ có điều sức mạnh và tầm
vóc của một nền văn hoá biểu hiện ra ở
chính cái chỗ mà nó vận động như thế nào
trong cái sự phức tạp đa chiều đó. Nó có
đủ khả năng khống chế sự bất
hạnh và khuyếch trương cái diễm phúc kia lên không,
hay là ngược lại nó chả có một chủ
trương chiến lược nào cả, cứ tiện
lúc nào sướng cái hay của Tây của Tầu th́ khen
lấy được, học lấy được, lúc
nào cáu lên th́ vứt hết dẹp hết quay về
"trâu ta ăn cỏ đ̣ng ta". Và tôi ngờ rằng
cái sự tuỳ tiện này chính là sự ứng xử
của chúng tạ Người ta có thể cho cái sự
tuỳ tiện một cái tên quan trọng hơn là
"Sự linh hoạt" chẳng hạn, nhưng tên có
hay như thế nào th́ cũng không thể kéo cái hiện
thực dở đó theo được. Những kẻ
bị buộc phải đi học trong t́nh thế
lưỡng phân th́ phải dẫn đến hệ
quả ǵ? Một trong những hệ quả là hắn không
bao giờ học hết chữ thầỵ Mới
học được nửa trang, mới đọc
được nửa trang, học đến nửa
quyển sách th́ "cái phanh" của ḷng yêu nước,
ḷng căm thù ngoại xâm (Tất nhiên là những cái đó
rất chính đáng!) đă chặn lại và hắn
nhất quyết quay xa với khẩu hiệu "Tự
lực cánh sinh", hoặc phương châm sáng tạo
ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam nghiên cứu
đối phương. Chẳng hạn khi người ta
có một kẻ thù th́ phải nghiên cứu nó và đó là
động cơ để học hỏi nền văn
minh của kẻ thù. Chỉ có điều tôi cảm giác
rằng sự học, sự nghiên cứu của chúng ta
chỉ dừng lại ở cái mức tin tức t́nh báo,
đại loại như cái thông tin rằng quân Nguyên Mông
không thạo đường thuỷ, hay đại quân
hậu cần của giặc hiện đang tắc
nghẽn ở đoạn nàọ Chắc là cái sự
học sự nghiên cứu của chúng ta nó dừng lại
ở chỗ ấy, nó khác hẳn sự nghiên cứu
của người Tầu, người Pháp, người
Mỹ về chúng tạ Có một thực tế là các
học giả Việt Nam ngày nay muốn thực sự
nghiên cứu về Việt Nam th́ không thể không sang Trung
Quốc, Pháp và Mỹ để ngồi đọc tài
liệu Việt Nam, mà những nước đó đem
về giữ trong những thư viện và trong văn
khố của họ. Tôi có một người bạn,
hiện nay đang lang thang ở các trường
đại học Mỹ để nghiên cứu về Phan
Khôi. Một cái hành tŕnh hết sức ṿng vo v́ sao ? Để
nghiên cứu về Phan Khôi th́ anh phải đọc báo
của Việt Nam ở những năm 30, những báo th́
chúng ta không giữ lại đầy đủ, chúng ta không
giữ lại theo đúng tinh thần của người
Việt là thời nào biết chuyện của thời
đó, thời nào khoanh lại thời đó, thế hệ
nào khoanh lại thế hệ đó không có dính líu ǵ
đến thế hệ sau nữa cả. Nhưng
người Pháp th́ khuân những thứ báo đó về Pháp,
không phải chỉ khuân một bản mà khuân nhiều
bản. Cái bản thừa, bản đúp th́ họ bán
lại cho người Mỹ và bây giờ th́ Bộ văn
hoá Pháp cấp cho một nhà nghiên cứu Việt Nam một
khoản tài trợ để nhà nghiên cứu Việt Nam
sang Mỹ mua số báo Việt Nam đă được Pháp
bán lại cho Mỹ, để nghiên cứu về một
nhân vật Việt Nam đàu thế kỷ. Đối với
giới sử học Việt Nam, các công tŕnh của cơ
quan nghiên cứu Pháp tại Viễn Đông-Bác Cổ là một
chỗ dựa không thể thay thế nổị Rơ ràng là
thực dân Pháp muốn chinh phục và bám trụ ở Đông
Dương và điều đó th́ không có ǵ để bàn
căi cả. Để làm điều ấy th́ họ cần
hiểu biết về cái xứ sở mà họ muốn
chiếm giữ, hiểu biết tường tận
về văn hoá, một nền văn hoá xa lạ với
họ, chứ không phải chỉ là thu thập những
tin tức t́nh báọ Chắc chắn là hoạt động
của Viễn Đông-Bác Cổ do Bộ thuộc địa
Pháp tài trợ. Các học giả và trí thức Pháp có thể
bị dùng vào công việc không lấy ǵ làm đẹp
đẽ lắm, song bản thân công việc của họ
diễn ra nghiêm túc và thấu đáọ C̣n các học
giả Việt Nam có thể là công cụ cho một mục
đích chính đáng, song kết quả công việc của
họ lại tạm bợ và nửa vời.
Xét
về phương diện này th́ trí thức Việt Nam
ngoại lệ nhất là Nguyễn Trường Tộ và
bản thân Tự Đức cũng là một bậc trí
thức không đến nỗi là ngu dân như trong sách
sử mô tả. Song như chúng ta đă biết, trong
chương tŕnh Canh Tân được Nguyễn
Trường Tộ đề nghị và rất nhiều
điểm cũng được Tự Đức tán đồng
không hề được thực hiện. Đa số
giới cầm quyền đương thời cũng là
các bậc học giả hiểu cao, biết rộng,
họ có đủ lư do cần thiết để cản
trở chương tŕnh Canh Tân đó, mà cái lư do là Nguyễn
Trường Tộ là người theo đạo Tây
chỉ là một cái cớ.
Một
mặt th́ chưa học tới nơi tới chốn
đă sốt sắng sáng tạo để rồi toàn
đi đến những kết quả nửa vời
như vậy, mặt khác khi chỉ c̣n một ḿnh với
cái đống sáng tạo dở dang không dùng
được đó th́ người trí thức Việt Nam
mới lại trở thành một học tṛ ngoan thậm
chí rất ngoan. Ngoan tới mức thành kẻ nô lệ,
thành bảo hoàng hơn vua. Thậm chí Khổng Tử
hơn cả Khổng Tử, ga-lăng hơn cả
người Pháp, Mác-xít hơn cả cha đẻ của
Mác-xít. Lúc bấy giờ cái người học tṛ thích sáng
tạo ấy tự phong cho ḿnh những cái danh hiệu
chẳng hạn là đại diện xứng đáng
nhất cho những trường phái ǵ ǵ đó của
những ông thầy ǵ ǵ đó... Khi Trung Hoa đă là Trung Hoa
dân quốc, trí thức Trung Hoa đă miệt mài ngồi
dịch sách của Rousseau, Montesquieu, th́ lúc đó trí thức
Việt Nam vẫn c̣n chết ch́m trong cái mớ "Thi Vân
Tử Viết' (?...) của ḿnh, và triều Nguyễn lúc
đó c̣n trưng ra những nghi lễ nho giáo c̣n khắt khe
hơn triều đ́nh Bắc Kinh một thuở. Ví
dụ, ta có thể lấy chủ nghĩa lăng mạn trong
văn học Việt Nam Tiền chiến làm ví dụ cho
việc này. Tất nhiên là phong trào Thơ mới và Văn
xuôi 1930-1945 là một bước tiến khổng lồ cho
văn học Việt Nam, song thần tượng của
nó, nguồn ảnh hưởng của nó từ văn
học Pháp lúc đó là những thứ đă diễn ra
trước đó có khi cả thế kỷ. Cái mà ông
thầy Pháp đă bỏ đi trong giáo tŕnh của ḿnh
từ mấy đời th́ anh học tṛ Việt vẫn
c̣n nghiền ngẫm say xưa lắm, c̣n cái mà ông thầy
ấy đang giảng ở trên lớp th́ anh học tṛ
ấy chỉ nghe có một nửa tai rồi bảo
rằng: "Cái đoạn này th́ ta nên tự lực cánh
sinh". Cho đến tận bây giờ cái tinh thần
của văn chương lăng mạn tiền chiến
vẫn chế ngự trong văn chương hiện
đại, nếu có ai phê b́nh th́ các vị ư vênh mặt lên
bảo rằng: "Văn chương Pháp cũng thế,
dám chê cả văn chương Pháp à!?" Song những
điều đang diễn ra trong văn học Pháp th́
chẳng có ai buồn học, có bảo là phải học
th́ các vị ư lại bảo: "Biết cả rồi,
xoàng cả thôi, cũng chả hơn ǵ ta đâu, ḿnh làm có
khi c̣n hay hơn!" Như thế th́ hỏi làm sao mà
văn chương nghệ thuật nước ta không luôn
luôn đi lạc một bước, ít nhất là một
bước sau thế giớị Năm mươi năm
nữa chẳng hạn các học tṛ Việt lại đi
mở những thứ sách của thế giới bây
giờ ra để học lấy học để, đă
học như thế th́ lấy đâu ra thời gian
để học chính những thứ đang cùng thời
với ḿnh. Hỏi làm sao cái học đó không phải là cái
học viển vông.
Giữa
chủ động nô lệ và chủ động sáng
tạo ta có thể quan sát rơ ở các trí thức Việt,
nhất là khi họ đi ra nước ngoài để
học hỏi. Chẳng hạn, khi ra nước ngoài
học về khoa học quản lư, là một thứ mà
chúng ta chưa bao giờ có. Rơ ràng trước khi một
nước phương Tây quyết định đầu
tư vào một chỗ nào đó ở Việt Nam th́ họ
đành phải làm cái việc không đừng
được là đào tạo, cũng như việc
họ bán cho chúng ta một cái máy bay th́ họ phải làm cái
việc là đào tạo cho chúng ta một anh phi công,
đấy là chuyện họ không đừng
được. Như vậy là trí thức Việt cắp
cặp đi học khoa học quản lư hiện
đại, chữ thầy được mười th́
học tṛ nghe được một, thôi thế th́ cũng
là may rồi. Nhưng cái mà tôi thường xuyên chứng
kiến ở những người đó là họ sẵn
sàng vứt tất cả một phần đó đi, và
bảo rằng: "Úi trời, cái kiểu quản lư này
không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam!" Cũng
là có lư chứ không phải là không có lư, tất nhiên là không ai
đi bệ nguyên xi nước ngoài về mà dùng
được, chuyện đó tôi không bàn. Tinh thần sáng
tạo th́ bao giờ cũng muôn năm cả, thế
nhưng cũng chính những người đó khi quay
trở về nước đối mặt với
những lề lối quản lư rất Việt Nam,
rất mông muội, rất trung cổ th́ lại giương
cái sở học của ḿnh trong các chuyến đào tạo
ở nước ngoài như vậy ra mà bảo rằng:
"Tây nó làm như thế, Tây nó khác, Tây nó phải như thế;
Không được thế nàỵ.. Không được
thế kiạ.." Nhưng Tây nó bảo như thế nào
th́ không c̣n nhớ nữa, thế là lại đi học nữa!
Xă hội Việt Nam sinh ra một tầng lớp trí
thức không làm điều ǵ khác hơn là suốt
đời đi học như vậỵ Cứ
đến lớp th́ chê thầy, cứ về nhà th́
nhớ thầy xin cắp cặp theo học lạị
Suốt đời đi học như vậy, như
thế th́ làm sao được như người Nhật
tự làm ra chữ viết cho ḿnh.
Chữ
Nôm Việt Nam được làm ra về xuất phát
điểm thực ra không khác ǵ chữ Nhật, chỉ có
điểm khác là nó không thành công. Muốn dùng chữ Nôm th́
người ta phải biết dùng chữ Hán trước
đă, rồi sau đó phải học nguyên tắc cấu
trúc chữ Hán vốn rất là phức tạp như
vậy vào làm sao cho nó thành ra cái gọi là chữ Nôm. Tôi
lấy một ví dụ: chữ "Trời" chẳng
hạn, muốn viết ra mặt giấy th́ ta phải
viết như thế nàỏ Th́ người ta phải
biết hai chữ Hán là chữ "Thiên" và chữ
"Thượng", phải biết cách ghép hai chữ này
lại với nhau để thành một chữ
"Trời". Quả nhiên là một cái logic vô cùng kinh
hoàng đối với h́nh dung của tôi, cứ làm như
c̣n một cái "Thiên" nào khác ngoài cái
"Thượng" đó. Mà đă thế sao không dùng luôn
tiếng Hán chỉ có một chữ "Thiên" là xong,
tại sao lại hai lần tiếng Hán như thế
gộp vào nhau để ra thành chữ "Trời"?
Trong cái công tŕnh sáng tạo chữ Nôm ấy, rơ ràng "Sáng
tạo là ǵ? - Là ghép hai cái dập khuôn vào với nhau! Tôi
chưa bao giờ dám tự hào về cái chữ Nôm mà theo tôi
(xin lỗi các vị) (?..) là điển h́nh cho cái tinh
thần khổ dân (?..). Phải học cái chữ của
kẻ thù th́ đơn giản là khổ thôi, nhưng
học cái chữ của ḿnh bằng cách hai lần đi
qua chữ của kẻ thù th́ là sướng? Như
thế th́ chẳng phải khổ dân (?..) th́ là cái ǵ? Song
kết cục quá tŕnh làm ra chữ viết như thế
nào th́ lại là bất ngờ lớn cho chúng ta, chữ
quốc ngữ là tác phẩm của một số cha
cố Ḍng Tên. Cái may của chúng ta trong câu chuyện này là
những người truyền giáo có mặt ở Việt
Nam trong một thời gian dài, có ảnh hưởng quan
trọng là các vị Ḍng Tên nổi tiếng là những trí
thức tu sĩ uyên bác, có năng khiếu ngoại ngữ
và có một ḷng khoan thứ nhất định đối
với những tín ngưỡng khác, chứ không phải là
các vị của Ḍng Dominique (?..) như trong trường
hợp của Trung Quốc chẳng hạn.
Những
căn bệnh khác của "người học tṛ
Việt Nam" trong t́nh thế lưỡng phân này chúng ta có
thể kể ra. Học như vậy th́ không thể không
mặc cảm. Đương nhiên là phải thấy ḿnh bé
nhỏ, kém cỏi trước cái khổng lồ, phong phú
và cái ưu thế của các thành tựu văn hoá khác. Tôi
thực sự chưa được chứng kiến
một trí thức hay một văn sĩ Việt Nam nào có
một ḷng tự tin đáng thuyết phục khi họ
đi ra nước ngoài. Nếu mặc cảm như
vậy th́ không thể không chán nản mà ỳ ra và ăn
sẵn. Dường như trí thức Việt Nam có thể
rất yên tâm mà nghĩ rằng: "Không có chúng ta th́
thế giới vẫn tiến bộ ầm ầm".
Thế th́ hăy đợi người ta tiến bộ mà
ăn nhờ có phải là đỡ mất công hay không, mà
đằng nào nếu ḿnh làm th́ có ra ǵ đâu mà làm. Thế
nhưng ăn sẵn cũng có rất nhiều cách ăn
sẵn. Cái cách ăn sẵn của trí thức Việt Nam
chúng ta nó chẳng giống ai cả, c̣n chọn chán, c̣n chê
chán, c̣n chặt miếng ra và chọn miếng nào cho vừa
mồm ḿnh, vừa khẩu vị ḿnh, dễ cho cái bụng
ḿnh tiêu hoá th́ mới dùng. Tất nhiên điều đó
cũng có cái hợp lư của nó, song v́ sao không thử xem
lại cái miệng ḿnh có nhỏ quá hay không, khẩu vị
của ḿnh có cần thay đổi đi hay không và bụng
dạ ḿnh có c̣n đủ tốt để tiêu hoá cái ǵ đó
hay không.
Tóm
lại, khi cái học của một tầng lớp có
học của chúng ta như thế th́ cái học ấy có
hơn ǵ sự vô học của một đám đông hay
không. Hỏi làm sao mà cái học ấy không giúp ǵ
được ai. Tôi xin dừng lại ở đâỵ
Phạm
Thị Hoài
Về
thiên sứ của Phạm Thị Hoài
Tên nhân vật chính của tác phẩm ( và cũng trùng
với bút danh của tác giả) là Hoài. Chẳng biết
tại sao chị lại đặt cho nhân vật của
ḿnh cái tên ấy : nỗi nhớ. Có điều, tác phẩm
của chị cũng giống hệt như một
nỗi nhớ, một hoài niệm kín đáo nào đó,
một ḍng suy tưởng lặng lẽ, lan chảy. Và cô
bé Hoài nắm tay dắt ta vào một thế giới hoàn toàn
khác lạ với thế giới của chúng ta, thế
giới của riêng một ” nỗi nhớ “ với ”
bốn trăm ô vuông nâu và một khuôn chữ nhật
biến ảo, xoay như xoay rubich “, trong một hệ
thống khổng lồ như những tấm gương
lồi lơm, những đa giác, lục giác, bát giác
gương quay tṛn xung quanh một tâm điểm : con
người. Con người với những biến
dạng phức tạp của nó, một con người
lập thể chứ không hẳn là một con người
bằng xương bằng thịt, càng không phải là
một Con Người viết hoa.
Sau
những năm dài của một nền văn học mà
người ta đang ” xám hối “ - nói như Nguyễn
Minh Châu - Thiên sứ xuất hiện như một
điều ngẫu nhiên. V́ độc giả Việt nam,
hay nói cho chính xác hơn, thị hiếu văn chương Việt
nam chưa chuẩn bị để đón nhận một
tác phẩm văn chương loại này của một nhà
văn Việt nam. Chỉ vài năm nay thôi, Dạ Ngân,
Nguyễn Thị ấm, Thu Huệ mới đăng quang
bằng những tác phẩm mang hơi hướng t́nh
dục, chứ vào thời điểm mà nó ra đời (
cách đây đă năm sáu năm) Thiên sứ chỉ gặp
phải sự lạnh lùng của giới phê b́nh Việt
nam. Người ta nhắc khẽ đến nó trong
những cuộc nói chuyện không chính thức của
giới văn nghệ, tác phẩm được biết
tới trong một nhóm rất nhỏ những người
yêu văn học, vậy thôi. Một số nhà phê b́nh nhanh
nhảu đă kịp viết bài chỉ trích, tiếc
thương cho một tài năng trẻ sớm sa vào
cạm bẫy của ” Chủ nghĩa hiện sinh“, ”
chủ nghĩa siêu thực“ và vô số những ”ismes“ ǵ
đó mà những đầu óc ” thông kim bác cổ“ đó
vốn rất sẵn. Nhưng thời đại đă
khác rồi, và một trận đ̣n hội chợ đă
không kịp xảy ra. Bị thích trên ḿnh dấu hoa huệ
của một tác phẩm ”có vấn đề“, Thiên sứ
ch́m vào trong một sự im lặng đầy ác ư, và ngay
cả các giải thưởng quốc tế mà nó giành
được gần đây cũng không đủ sức
xoá tan bức màn im lặng đó.
Thực
ra trong bất kỳ một sợ chỉ trích nào cũng
hàm chứa một phần sự thật nào đó.
Đằng sau lời nhận xét dè dặt ” thiếu dung
dị “ là sự bối rối của các nhà phê b́nh
trước một tác phầm không hề đơn
giản. Vốn quen với những chủ đề
dễ hiểu của ” chiến tranh và xây dựng“, với
những ” hoàn cảnh điển h́nh và nhân vật
điển h́nh“, với nhứng bức tranh chỉ có
đen và trắng, phải và trái, không có chỗ cho những
bóng nhoè đen trắng, không có chỗ cho những t́nh
cảm phức tạp khó hiểu, họ lúng túng và
ngượng ngùng khi phải đối mặt với
sự sâu thẳm của thế giới nội tâm, một
tiềm thức hay những xung đột kỳ quặc
của một thế giới hiện đại ngày càng
buồn chán hơn với một con người ngày càng cô
độc hơn. Và cái thế giới của một cô bé
vĩnh viễn mười bốn tuổi ấp ủ
trong ḷng ḿnh kư ức về một vừng mặt trời
đỏ ối và một vùng hồ mênh mang, bó chặt
trong một khung cửa sổ với những ẩn
ức khó hiểu của riêng nó lại càng xa lạ
đối với họ.
Cái
lạ của Thiên sứ lại vốn dĩ ... không
hề lạ. Đúng là lạc vào thế giới của
Thiên sứ, chúng ta như lạc vào mê cung của nhà vua
Medat, nếu thiếu sợi chỉ màu của nàng Mede
sẽ thật khó t́m thấy đường ra. Và nếu
cứ chia nhân vật ra tuyến nọ tuyến kia trong hành
tŕnh khô cứng của cái bắt đầu và cái kết
thúc, của thắt nút và cởi nút, chẳng mấy
chốc chúng ta sẽ rối bời trong một
đống mâu thuẫn khổng lồ. Có nhà văn đă
nói ” trên đời có những cái rất thật mà lại
không phải là sự thật!“. Đúng vậy, cũng
như có những cái tưởng là không thật mà lại
chính là sự thật. Bởi bản thân tác phẩm đă
là một ” rừng biểu tượng“ - nói như
Baudelaire( Correspondences - Tương hợp) - Chúng ta phải
biết cách thâm nhập vào cánh rừng ấy. Hăy
đọc Thiên sứ theo cách khác, cái cách mà Hoài Thanh đă
khuyên khi ông nhận xét về tuồng. Hăy hiểu tính
ước lệ của nó, hăy loại bỏ, thanh lọc
ḿnh khỏi những thiên kiến chủ quan về phải
và trái, về cái có thật và cái trừu tượng,
nhập thân vào thế giới của các nhân vật, các
huyền thoại, các biểu tượng, mở ḷng ra và ”
văn sẽ tràn vào trong ta trong một giây “ (Tsekhop).
Bởi
lẽ cái quyến rũ nhất của Thiên sứ là
chất ảo của hiện thực. Không phải
ngẫu nhiên câu chuyện lại được xây dựng
trên hồi ức của một cô bé, trên ḍng suy
tưởng chậm chạp và lắng đọng của
một tâm hồn bất biến trước những
biến động của xă hội và thời gian. Tâm
điểm ở những tấm gương dồn
tụ ở Hoài, ” ốc nhỏ bám riết bậu cửa
sổ“, vĩnh viễn ” mười bốn tuổi“. Em là
con mắt băo, và thế giới trong Thiên sứ là thế
giới của riêng em, được nh́n bằng con
mắt của em, thế giới trong trắng của
trẻ thơ, thế giới của những ước
mơ mộng tưởng kỳ ảo. Chính đây là
tấm lăng kính tạo cho Thiên sứ vẻ hư ảo
quyến rũ ngần ấy.
Không
chỉ có Phạm Thị Hoài đặt niềm tin của
ḿnh vào tuổi thơ. Có người đă than thở :“ Tôi
thường thích nói chuyện với trẻ con, ít ra th́ c̣n
có hy vọng là chúng sẽ trở thành những tạo
vật có trí tuệ, c̣n những kẻ ngay tự bây
giờ đă coi ḿnh là thế th́ ... than ôi! “. Phải,
chỉ có trực giác tuyệt vời của trẻ
nhỏ mới có thể đưa ra cái logic cực kỳ
đơn giản rằng loài người chỉ có hai
loại ” homo A và homo Z ”, ” người có khả năng âu yếm
dịu dàng và kẻ không có khả năng ấy“. Hoàn toàn
chỉ tuân theo một quy luật, quy luật của trái tim
, mười lăm năm ṛng , cô bé Hoài làm cái việc phân
chia ấy một cách ” nhẫn nại, không ṭ ṃ, không giàu óc
tưởng tượng“, dường như đó là ” công
việc có ư nghĩa duy nhất trong cuộc đời cô “.
Tâm hồn trong trẻo của cô bé Hoài như một
tấm lưới lọc khổng lồ, tách nhân loại
ra làm hai hạng : có xúc cảm và vô cảm. Thật
đơn giản làm sao ! Nhưng như lời chú mèo
của H. Andecxen đă nói trong ” Nữ thần băng giá“:
trực giác tuyệt vời ấy, khả năng kỳ
diệu ấy là món quà Thượng đế giành riêng cho
trẻ nhỏ. Khi lớn lên con người ta quên đi,
đánh mất dần khả năng ấy, và đến
một lúc, không c̣n tin rằng có thời họ đă suy
nghĩ và hành động như vậy. Người
lớn với cả một hệ thống logic rắc
rối đầy ắp những cái có thể và cái không
thể, nên và không nên, có lợi và không có lợi làm sao có
thể chấp nhận cái triết lư rạch ṛi về homo
A và homo Z, cũng như họ không thể hiểu
được h́nh vẽ con trăn tiêu hoá con voi của
Saint-Exupery ( Le Petit Prince). Khả năng cảm đă
phải nhường chỗ cho khả năng hiểu.
Phải chăng v́ thế mà cô bé Hoài đă chui vào vỏ
ốc của ḿnh “ Ba mươi kilogam, một mét hai
mươi nhăm, đuôi sam “? Em từ chối quyền
lớn lên, từ chối nhập vào ṿng chuyển
động Brown, ”khước từ các loại bậc
thang “ để giữ lại cho ḿnh cái quư giá nhất
của con người, khả năng có xúc cảm. Bởi
v́- lại quay lại với Saint- Exupery - chú cáo trong Hoàng
tử nhỏ nói :“ Người ta chỉ thấy thật
rơ bằng trái tim ḿnh, cái chủ yếu th́ mắt chẳng
thể thấy “.
Nhưng
cái lứa tuổi mười bốn vĩnh hằng
của Hoài chỉ là vỏ ốc, lớp vỏ vật
chất bảo vệ cho một cái ǵ đó sâu thẳm
hơn, dữ dội hơn. Dưới đó là tầng
sâu của những rung động thầm kín, của
những khao khát không được thoả măn, những
đ̣i hỏi bị gh́m nén trong tâm hồn một phụ
nữ hai mươi chín tuổi. Một người
đàn bà khao khát yêu thương và được yêu
thương, khao khát cho và nhận bị ép chặt trong h́nh
hài một cô bé mười bốn tuổi. Một khuôn
mặt trẻ con che chở cho một tâm hồn mang ”
cơn sốt núi lửa“ , suốt mười lăm
năm ṛng làm ” một nhân chứng câm lặng, thông tỏ
quyết liệt, không bao giờ quay lưng lại cuộc
đời“. Bên trong lớp vỏ ” Hoài“ là rất nhiều
cuộc sống khác nhau. Em mang trọn gánh nặng của
một ” nỗi buồn kinh niên“, nỗi đau của ”
một con búp bê bé nhỏ, câm lặng“, biết trước
tất cả, đoán trước được tất
cả mà lại không thể thay đổi được
điều ǵ, em - ” đứa con út già trước
tuổi gánh chịu tất cả những ǵ bố mẹ
và anh chị nó chưa kịp hiểu“
Không
hiểu sao, khi đọc Thiên sứ, tôi cứ hay nghĩ
đến Cậu bé mơ mộng của Paven Virginov, Jane
trong Chân dung nàng của Nathan, Hoàng tử nhỏ của
Saint-Exupery. ở tất cả những nhân vật ấy
có một điểm chung. Các em dường như không
thuộc về thế giới của chúng ta mà thuộc
về một thế giới khác bí hiểm hơn, ”
một thế giới chưa kịp đến“. Bởi
v́ thế giới trong Thiên sứ là một ” đa thế
giới“ . Như một h́nh cầu được tạo
bởi vô số những đường tṛn đồng
tâm, thế giới ảo và thế giới thực, không
gian được trải dài ra và không gian bị dồn
nén, thời gian một chiều và thời gian nhiều
chiều , tất cả đan xen vào nhau tạo thành
một sự ” tương hợp“ tuyệt vời. Hoài thu
ḿnh lại tới mức tối thiểu, thành ” ốc
nhỏ bám riết bậu của sổ“ để có
thể thoát ra khỏi thế giới này, nhập thân vào
thế giới nội tâm của riêng ḿnh. Lạc lơng
giữa thế giới thực, thế giớí các
đồ vật, cô bé Hoài im lặng chịu đựng
nỗi đau của căn bệnh tổ tông với
lời nguyền khắc nghiệt: đau nỗi đau
của toàn nhân loại, không có được cả
niềm an ủi của một ”hành tŕnh khép kín“ như bé
Hon. Em không thuộc vào bất cứ một thế giới
nào trong Thiên sứ. Hoài, với ”một mét hai mươi
nhăm, ba mươi kilogam ,đuôi sam“ chỉ là lớp
vật chất thô kệch giúp cái tôi của em xuyên qua ranh
giới của thế giới ảo và vào thế giới
của chúng ta, tại những điểm cắt bất
đắc dĩ của hai thế giới. ” Cái tôi“ mới
chính là chất trừu tượng của nhân vật Hoài,
là phân nhân bản, là bản năng nguyên thuỷ của con
người, tất cả hoà lẫn trong nhau thành một
khối phi vật chất thấm đẫm xúc cảm.
Thiên sứ trước hết là câu chuyện về
cuộc phản kháng đầy phẫn nộ, cuộc
chiến tranh âm thầm mà khốc liêt, day dứt và
tuyệt vọng trong nỗi cô đơn của phần
nhân bản đó, chống lại một xă hội tẻ
nhạt, xơ cứng, chống lại quá tŕnh xâm thực
từ từ bào ṃn các xúc cảm của con người
để bảo vệ những ǵ quư báu nhất của
nhân loại: tính người, niềm tin ngây thơ vĩnh
hằng và bản chất thánh thiện của con
người. Phản kháng trước tiên bằng thái
độ khước từ. Cô bé Hoài kiêu hănh tuyên bố :“
Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế
hệ nào. Tôi từ chối bất kỳ bộ
đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào“.
Đối với Hoài, những giá trị tinh thần may
sẵn ấy là nguồn gốc nỗi bất hạnh
của cả vài thế hệ, với vô vàn những Paven
Kocshaghin, Ruồi Trâu F1, F2, F3 đi đứng nói năng,
sống, tư duy và yêu đúng theo khuôn mẫu. Cô đă
chọn một tác phẩm - mà cô cũng phải thừa
nhận là chỉ đáng giá ba xu - làm chiếc ch́a khoá
đưa ḿnh tới văn học. Âu cũng là một cách
phản ứng! Cái quan trọng không phải cuốn sách
đă đem lại ǵ cho Hoài, cái quan trọng là nó đă
đánh thức trong cô t́nh cảm nguyên thuỷ , bản
năng, khẽ hé mở trước mắt cô cánh cửa
bí mật mà- một cách vô thức- tất cả mọi
đứa trẻ đều ao ước được
ghé đầu vào xem. Cô tự chọn lấy cho ḿnh một
thang giá trị riêng, một thang giá trị chỉ có ư
nghĩa với riêng cô. Văn học ư thức đă
phải nhường chỗ cho văn học tiềm
thức !
Thực
ra bản thân nhân vật Paven Korshaghin hay Ruồi trâu
đều không có ǵ xấu, ngược lại là khác.
Điều bi thảm là ở chỗ, đám đông đă
chọn nó làm thân tượng cho ḿnh. Và khi đó, anh ta
chỉ c̣n có cái tên. Đám đông chọn thần
tượng của nó không dựa theo uy tín, tự bản
thân, nó nghi ngờ ư kiến của các chuyên gia, của ”
nghệ thuật chính thống“. Không phải tư
tưởng đă nắm được đám đông, mà
thực ra , đám đông nắm lấy tư tưởng
để sáng tạo ra một bộ đồng phục
tinh thần hào nhoáng cho ḿnh.
Độc
giả trẻ của ngày hôm nay hẳn khó có thể cảm
nhận tính xác thực trong những trang viết của
Phạm Thị Hoài về cuộc sống đô thị những
năm cuối bảy mười đầu tám
mươi. Không thể trách ng̣i bút trào phúng đến cay
độc, mai mỉa chua chát của Phạm Thị Hoài khi
viết về cuộc sống tẻ nhạt, tŕ trệ,
bức bối của Hà nội thời kỳ đó. C̣n ǵ
kinh khủng hơn cái cảnh ” hàng trăm tín đồ
cuồng nhiệt xếp hàng trẩy hội tới
chiếc ṿi nước duy nhất “ hay khi hiện
tượng số đề trở thành ” một trong ba
thông tin xă hội hấp dẫn và phổ biến nhất ”
xă hội sẽ đi về đâu nếu như trong hành
trang tinh thần của lớp trẻ là những lời
giảng kỳ dị ” Bơ là loại thịt,
người ta đóng trong ống bơ“ hay ” những
số báo Thiếu niên Tiền phong hai màu loè loẹt và
ngớ ngẩn, một vài đầu truyện Kim
đồng do người lớn hạ cố viết cho
lũ trẻ, của bố thí hèn hạ“. Con người
như người anh thứ hai của cô bé Hoài quên dần
đi những đam mê ( dẫu cho đó là những đam
mê nhục cảm), đánh mất dần xúc cảm,
trở thành các công chức ngoan ngoăn, ” sớm xách cạp
lồng đi, tôi xách cạp lồng về“ những
chiếc đinh ốc của một bộ máy già cỗi,
hoen gỉ. Đó chính là điều đáng sợ nhất.
Nỗi ám ảnh khôn nguôi của cô bé Hoài là giấc mơ
về những kẻ không có mặt, chính xác hơn là
những kẻ bị ”chiếc giẻ lau cuộc
sống... tước bỏ toàn bộ những ǵ làm nên
bộ mặt đặc trưng của một con
người “. Kinh sợ trước viễn cảnh
của một xă hội bị thoái hoá hoàn toàn về tư
tưởng, nhà văn thảng thốt tự hỏi,
sẽ ra sao nêu như tất cả mọi người
đều bị d́m trong ” khoảng chân không khổng
lồ, hoà tan giải thể “ đó?
Xă
hội được tái hiện trong Thiên sứ là lời
cảnh báo về một xă hội bị đồ vật
hoá chỉ c̣n sống bằng nhịp diệu của trái
tim sinh học, chiếc bơm nhỏ đáng thương.
Không c̣n đấu tranh tư tưởng để
được thừa nhận, hy sinh cả cuộc
sống v́ một lư tưởng trừu tượng nào
đó. Đấu tranh tư tưởng đ̣i hỏi
phải có óc tưởng tượng và tư duy sắc
bén. Thay vào đó chỉ c̣n nhà cửa, ăn uống,
quần áo và cuối cùng, đơn vị chuẩn
để đo tất cả những thứ đó -
Tiền là làm cho những con người- nửa máy
phải suy nghĩ. Trong Thiên sứ con người chưa
bao giờ là homo spacien và sẽ không bao giờ trở thành
homo spacien bởi nó chỉ suy nghĩ về thế giới
bên ngoài mà không t́m về thế giới bên trong, không
chịu suy nghĩ về ḿnh, về con người. Họ
chỉ sống một cuộc sống hời hợt trên
bề mặt, một cuộc sống chuyển
động hết sức nhanh theo thời gian, bởi v́
họ đă quên rằng thời gian c̣n có cả chiều
sâu.
Giữa
h́nh ảnh có thực về một thế giới hỗn
tạp, lộn xộn, đau khổ là giấc mơ
tuyệt diệu về Thiên sứ - cô bé Hon mang ” nụ
cười mê hồn“ và ” đôi môi thơm mùi sữa“. Hàng
ngàn năm mới có một lầm thiên sứ ghé thăm
trái đất. Thiên sứ ” toả ánh sáng trong và hiền lành“
hào hiệp ban phát môi hôn và t́nh yêu cho tất cả. Bé Hon
muốn chiến thắng cái ác bằng ” nụ cười
và môi hôn“ muốn cứu rỗi nhân loại bằng vẻ
đẹp ḱ ảo và thánh thiện của ḿnh, thức
dậy trong mỗi một con người t́nh yêu cái
đẹp, nỗi khát khao quay trở lại với cái
đẹp trắng trong nhân bản .
Thực
ra triết lư của Phạm Thị Hoài không có ǵ mới
mẻ, vẫn là tư tưởng ”cái đẹp sẽ
cứu thế giới“ của Shopenhao và Dostoievsky, có
điều ở đây, cái đẹp đă không có
đủ sức mạnh cần thiết. Con người
quay lưng lại... và ” Sứ giả pha lê“ lặng lẽ
bay đi, giă biệt trái đất trong nỗi xót xa
đối với toàn nhân loại. Con người đă
đánh mất cái đẹp, đánh mất cả một
thế giới - thế giới tâm hồn
Cặp
chị em Hằng - Hoài chính là hai mặt của cái
đẹp, cái đẹp phô diễn được và
tiềm ẩn ở bên trong. Chị Hằng là lớp
vỏ, cô bé Hoài là bề sâu. Điều bất hạnh là
cả hai không nhập vào làm một mà lại tách làm hai
nửa sống với thế giới của riêng ḿnh,
chịu những bi kịch riêng. Hằng là cái đẹp
đă bị giành giật, xô đẩy tha hoá, đă
được rao bán và đă bị mua, do đó dù có ”
nổi loạn“ tới mức nào cuối cùng cô vẫn quay
về với ”chiếc lồng bằng vàng“. Không phải
ngẫu nhiên mà Hằng và nhà thơ Ph. đă đến
với nhau trong một mối t́nh ” ngàn năm có một“ .
Nhà thơ Ph. chính là người ca ngợi cho cái đẹp
lư tưởng, siêu thực. Anh làm thơ chỉ v́ anh không
thể làm thơ, anh ” không làm thơ cho vui“. Anh cũng
thuộc về một thế giới riêng, sống với
thế giới riêng của ḿnh. Và khi chị Hằng bị
cái thế giới đồ vật chiếm hữu, anh
lặng lẽ biến mất. Không phải ”vấp
đời thường nhật, tan vỡ chiếc
thuyền t́nh“mà v́ họ đă thuộc về hai thế
giới hoàn toàn khác, hai thế giới không c̣n điểm
chung.
Trong
tác phẩm của ḿnh, Phạm Thị Hoài kiêng nhất hai
chữ lăng mạn, nhân vật Hoài của chị ngay từ
trang đầu đă tuyên bố dứt khoát :” Tôi dị
ứng kịch liệt trước các kiểu lăng
mạn“. Chị sợ cái từ này đến nỗi
mỗi khi có bất cứ một h́nh ảnh nào dễ
đưa người đọc đến với
những liên tưởng ” hơi thơ“ một chút là
chị phải ” choang“ thêm ngay ra những lời giải
thích hoặc những h́nh ảnh kế tiếp - ít ra th́
cũng không được ” lăng mạn ” cho lắm.
Cửa sổ nhà cô bé Hoài ” không mở vào hoa“ mà mở vào ”
một nhà máy rượu bia“ , anh thanh niên ” homo A một
trăm phần trăm “ cầm trong tay không phải
chiếc vĩ cầm mà là một chiếc bơm xe
đạp... và c̣n nhiều điều nữa. Ngay cả
sự ra đời của ”Thiên sứ“ cũng diễn ra
như trong một chuyện ” phản cổ tích“, khi các
yếu tố của huyền thoại là hiện thực
trần trụi chen vai thích cánh cạnh nhau, xuyên tạc
lẫn ư nghĩa của nhau. Cái cách gắn cái “grotesco“ ( thô
kệch) và bên cạnh cái thơ đă trở thành phản
xạ của ng̣i bút Phạm Thị Hoài. Cái chính là chị
sợ... sợ sự thoái hoá của cái nghĩa mà từ ”
lăng mạn“ đang được xă hội tiếp
nhận, sợ ” mớ sương mù t́nh cảm mà thiên
hạ ra sức tung vào mắt nhau “ để ”che lấp
tất cả, xoá nhoà tất cả“. Cô bé Hoài không muốn
”cùng chung hành tŕnh“ với thứ t́nh cảm bi ai rẻ
tiền nguỵ tạo, những mối t́nh hàng xén thấm
đẫm son môi và nước mắt ấy. Không, chữ
” lăng mạn“ phải được hiểu một cách
khác, sâu thẳm hơn rất nhiều. ” Chủ nghĩa
lăng mạn trong cái ư nghĩ chặt chẽ nhất và chính
yếu nhất của nó không ǵ khác hơn là thế
giới bên trong của con người, sự sống bí
mật của con người ” (Bielinsky). Chính v́ vậy mà
chị Hằng của cô bé Hoài đă thốt lên :“ Em hoài
nghi t́nh cảm, chỉ bởi em quá nhạy cảm. Em
khước từ chủ nghĩa lăng mạn, chỉ
bởi em là kẻ lăng mạn nhất trong số những
kẻ lăng mạn“. Không chấp nhận thứ chủ
nghĩa lăng mạn dung tục, chủ nghĩa lăng mạn
theo thời trang ấy, cô bé Hoài luôn luôn giữ cho ḿnh
một thế giới bên trong, được nuôi
dưỡng bằng những nỗi đau âm thầm và
những linh cảm huyền diệu. Chính chất lăng
mạn bản năng đó đă giúp cô ǵn giữ niềm
tin vào nhân loại, bản chất tốt đẹp
của con người.
Hai
mươi chín năm là cả một quăng thời gian dài và
mặc dù Hoài ” chưa bao giờ thôi phẫn nộ
trước những ung nhọt mỹ miều mà con
người phô ra cùng đồng loại“ , không khỏi có
những lúc cô mệt mỏi, ngă ḷng :“ Sự phản kháng của
tôi sẽ đi đến đâu?“. Lại vẫn là câu
hỏi ” Quo vadis“ của thánh tông đồ Piere và ngay chính
đức Chúa có lẽ cũng không trả lời Hoài
được. Cô đă bị thần số mệnh
bắt phải vác cây thập tự trên vai tới trọn
đời. Chính sự mù loà của xă hôị , của con
người, trước hiểm hoạ khủng khiếp
của một xă hội tŕ trệ đă làm cho cô tuyệt
vọng, oán hận. Nhưng dù sao, cô vẫn c̣n giữ ǵn
ḷng tin của ḿnh như người ta đă từng
giữ ǵn ngọn lửa những ngày đông. Hoài cũng
đă viết ba trăm lần cái tên Ph. vào những tấm
phiếu cầu hôn cho chị Hằng như một cố
gắng tuyệt vọng để bảo vệ cho cái chân
lư :“ Người ta sinh ra để thuộc về nhau“, níu
kéo lại cái đẹp. Ngọn lửa chỉ thiêu
được cái vỏ c̣n niềm tin th́ vẫn c̣n
đấy. Cô bé Hoài vẫn giữ cho ḿnh nắm tro từ
” ba trăm lần Ph.“ như giữ măi niềm tin vào
sự vĩnh hằng của cái đẹp trước
sự tấn công của đồng tiền và cái tầm
thường của cuộc sống.
Đọc
Thiên sứ thật thích! Giống hệt như khi ta
đang khát khô cổ mà lại t́m đến
được với một ḍng sông rộng chỉ
muốn cúi xuống uống cạn cả con nước
chảy, khao khát ôm chặt cả ḍng sông vào ḷng nhưng khi
ngửng lên , ḍng sông vẫn lặng lẽ tuôn chảy,
cả một khối nước ẩn hiện lung linh.
Ḍng nước th́ vẫn trôi xuôi nhưng có con sông nào là con
sông cũ?
Thiên
sứ, bản thân nó đă là một khối văn bản,
một văn bản nhiều chiều, nhiều tầng
lớp. Nó vừa là một sân khấu kịch khổng
lồ với các nhân vật truyền thống của sân
khấu phương Tây: nhà thơ, thằng lùn,
người đẹp, du côn, ác quỷ... trên cái nền
ngột ngạt của một không gian tù hăm , vừa là
một bài thơ văn xuôi dài. Rất nhiều câu thơ
của Phạm Thị Hoài cứ luyến đi láy lại,
tạo thành những giai điệu thắm thiết,
cuốn quưt lấy nhau, tạo thành những vực xoáy
của từ ngữ thăm thẳm. Và c̣n những
điển tích... những điển tích của văn hoá
phưong Tây chưa bao giờ đậm đặc và
trải rộng đến thế trong một tác phẩm
văn học Việt nam. Từ thần thoại Hy lạp
tới chuyện cổ Andecxen, từ Kinh Thánh cho
đến Don Quichotte, từ những chuyển động
Brown“ trục tung trục hoành, Hypecbon cho tới những
lời bài hát tiếng Anh quyến rũ (”Open your heart, I’m
coming home“- bài ”Hey, you“ của Pink Floy, ” the end of something“
của Beatles) hay những nhân vật tên tuổi của
điện ảnh thế giới ( Henry Fonda, ”the street car
named desire“...) Tất cả đi vào trong văn bản Thiên
sứ tự nhiên và hoà hợp một cách kỳ lạ. Những
điển tích hiện đại này làm cho nhiều
người khó chịu. Nhưng thật bất công với
tác giả khi chê chị là ”Tây tàu hổ lốn“, trong khi
những điển tích của văn hoá Trung quốc
lại được xưng tụng. Có lẽ, sai lầm
của Phạm Thị Hoài là ở chỗ chị là
người đi tiên phong. C̣n nếu như Thiên sứ
chỉ giành cho một lớp độc giả có chọn
lọc th́ có ǵ là sai trái? Khả năng cảm thụ cái
đẹp đ̣i hỏi một vốn văn hoá nhất
định để giải mă.
Thiên
sứ là một tác phẩm mở. Gấp sách lại, câu
kết của câu chuyện lại như mở ra
trước mắt ta một cánh cửa mới, bắt
đầu một câu chuyện mới :” Lúc đó là không
giờ kém hai phút ngày năm một ngàn chín trăm bảy
mươi chín“. Dư âm ấy thật đáng tiếc,
lại không kéo dài tới những tác phẩm sau. ” Mê
lộ“ của chị đă mất đi giọng dài
hơi của Thiên sứ. Chị như một vận
động viên đă đuối sức sau một cuộc
chạy dài, bao nhiêu sinh lực đă trút hết cho ṿng
đua. Nhưng chị vẫn c̣n rất sung sức và độc
giả c̣n có quyền hy vọng.
Hà nội 30.08.1994
Thời gian đồng hiện trong thuế
biển của Phạm Thị Hoài
Nếu
được tiếp xúc với anh Nguyễn Thanh Sơn,
tác giả của những bài viết này, các bạn sẽ
bị choáng ngợp bới sự thông minh uyên bác và sự
lịch lăm đầy tính ngoại giao, dù c̣n rất
trẻ. Nhiều người quen biết anh từng nói,
Sơn sinh ra là để làm chính khách, mặc complet,
uống rượu và đọc diễn văn ở
những nơi trang trọng. Không những thế anh c̣n là
cộng tác viên của 3 tờ báo và sự hiểu biết
sâu sắc về Văn hoá Việt nam và thế giới nói
chung th́ có thể nói là hơn đứt đại đa
số các nhà văn ruồi nhặng của cái Hội nhà
văn Việt nam. Ở Sơn có một sự cuốn hút
kỳ lạ khiến những người tiếp xúc có
thể ngồi ṛng ră nhiều giờ nghe anh nói mà không
biết chán.
Con đường của những ư tưởng thật
không thể đoán trước được. Nhiều
lúc, những suy nghĩ lạ lùng nhất lại
đến với ta vào những giây phút bất ngờ
nhất. Ta chỉ uổng công tự hỏi tại sao và
từ đâu trong ta xuất hiện những ư nghĩ
ấy. Tâm hồn con người gồm toàn những
nẻo vắng tối tăm, chỉ đôi lúc mới bùng
lên những tia lửa nhỏ nhoi của sự giác ngộ,
của tư duy.
Tôi
ngồi một ḿnh trong quán cà phê quen thuộc ở
đường Nguyễn Du, và đúng vào lúc tôi mở
cuốn sách mới mua ra xem, một sự ngẫu nhiên nào
đă khiến cả một vạt nắng chiều soi qua
tấm phên mây đổ vào trang sách. Cả cuốn sách
bỗng dưng như được dệt bởi
một tấm lưới vàng rực rỡ với
những bóng sáng tối đan chen nhau. Tôi ngồi im trong
một cảm giác vừa hân hoan vừa cay đắng,
bởi v́ chính vào giây phút đó đă xảy ra một
điều kỳ diệu mà tôi không thể nhận
thức được. Dường như ḍng tư
tưởng trong cuốn sách đă theo những luồng ánh
sáng đi thẳng vào tâm hồn tôi , bởi v́ trong tôi trào
lên một cảm giác biết ơn và khâm phục với
tác giả mà rơ ràng tôi chưa hề đọc qua. Giây phút
ấy kéo dài không lâu, nhưng tôi đă kịp thấu
hiểu sự bất lực của ngôn từ, khi muốn
diễn đạt những xúc cảm diễn ra trong tâm
hồn. Nhưng tại sao tôi không thể kéo dài
được giây phút đó ?
Các nhà
khoa học nói sự đứt đoạn của ḍng suy
nghĩ chính là cái cách bà mẹ Thiên nhiên đă làm để
đảm bảo cho bộ năo của chúng ta không bị quá
tải. Nhưng tôi lại nghĩ, không duy tŕ
được sự liên tục của ư thức chính là
khuyết điểm lớn nhất của tự nhiên
trong quá tŕnh h́nh thành con người. Bởi v́ giá như con
người có thể ch́m đắm trong suy tưởng,
họ đă có thể sáng tạo ra biết bao diều
kỳ diệu. Tiếc thay có lẽ bà mẹ Thiên nhiên
để giành cái đó cho những bậc thang cao hơn
của sự tiến hoá. Và chúng ta đành bằng ḷng
với trí tuệ hữu hạn cùng với ḍng suy
tưởng không liền mạch của ḿnh.
Tôi
không hiểu con người có thể thâm nhập vào
những cảnh giới nào khi họ ngồi thiền,
nhưng suy tưởng vẫn là biện pháp duy nhất
giúp con người cùng một lúc tồn tại trong
những không gian và thời gian nhiều chiều. Nó đă
làm sống dậy quá khứ, một quá khứ thực
sự với tất cả âm thanh và sắc màu của nó
chứ không đơn thuần là những bóng ma của
những kỷ niệm. Vào những giây phút ấy, cả
hiện tại, quá khứ và tương lai cùng hoà thành
một khối tương hợp. Đáng tiếc, chúng ta
biết sẽ tới lúc quá khứ tự lọt khỏi
tay chúng ta, bỏ chúng ta lại trong ngôi nhà trống trải
của hiện thực. Phải chăng v́ thế mà
những hồi ức, dù tươi đẹp đến
đâu, bao giờ cũng có dư vị ngậm ngùi....
Những
mảnh khác nhau của quá khứ và hiện thực
thường được các nhà văn sử dụng
để xây dựng thành những thế giới và
thời gian đồng hiện trong cùng một thời
điểm tạo thành những hiệu quả đặc
biệt, v́ nó, nói một cách khác, có khả năng cho phép con
người cùng một lúc sống nhiều cuộc
sống khác nhau.
Thuế
biển - xét về phương diện đó mà nói - không
phải là truyện ngắn duy nhất của Phạm
Thị Hoài sử dụng thời gian dồng hiện.
Nhưng có lẽ nó là một trong những truyện
ngắn sử dụng thủ pháp đó thành công nhất.
Nổi
loạn chính là từ hay được dùng nhất
để đánh giá nét khác biệt của ng̣i bút Phạm
Thị Hoài với các nhà văn khác. Nổi loạn có
nghĩa là không chấp nhận con dường rất
nhiều người đă đi, không tin vào những tín
điều đă trở nên xưa cũ. Nhưng có lẽ
người ta hàm ư chê trách nhiều hơn v́ giọng
văn chua cay đến tàn nhẫn của chị - cái mà
nhà phê b́nh khả kính không muốn thấy ở một nhà
văn nữ.
Nhưng
những người đọc tinh tế hơn sẽ
cảm nhận một nỗi buồn âm thầm ẩn sau
những lời chua chát đó. Bằng sự mẫn cảm
thiên phú, những người phụ nữ cảm nhận
được sự giả dối về cuộc
đời nhạy hơn nhiều so với những
người đàn ông. Những ước lệ mà thế
giới đàn ông áp đặt cho phụ nữ, những
”tam ṭng tứ đức, công dung ngôn hạnh“ đè
chặt lên cuộc đời họ làm họ nghẹn
thở. Và họ phản kháng quyết liệt để
giải phóng ḿnh. Nhưng chính vào lúc họ cảm thấy
ḿnh được tự do là lúc họ cảm thấy ḿnh
cô độc và thèm khát t́nh cảm. Nói như Andre Moroa “
thời đại chúng ta đang đói khát t́nh cảm. nó
giả vờ ngổ ngáo chỉ để che giấu
những hoài vọng t́nh cảm của nó mà thôi“. Cái ”
ngổ ngáo“ của ng̣i bút Phạm Thị Hoài chỉ
để che đậy cho một trái tim dễ bị
tổn thương.
Những
chuyện ngắn của chị là sự đấu tranh
liên tục của hai giọng điệu : chua chát và
trữ t́nh. Chúng giằng co nhau, nghi ngại lẫn nhau. V́
thế, mượn cách nói của một nhà văn,
Thuế biển cũng giống như những truyện
ngắn khác của chị luôn luôn ”được cấu
thành bởi những mảnh thiên đường thuần
khiết và những mảnh địa ngục trầm
luân“. Hai màu sắc tương phản đó càng làm cho
bức tranh của chị có một sắc màu rất riêng
biệt.
”
Những mảnh thiên đường thuần khiết“
trong Thuế biển chính là hồi ức ngọt ngào
của nhân vật chính về một người yêu có
đôi bàn tay ” mùa đông ấm như nắng mùa hè dịu
như trăng, đụng vào đá, đá cũng khoan khoái
rên lên“. Và hồi ức không thể quên cùng với nỗi
đau khôn nguôi ấy đă tỏ ra mạnh hơn
nhiều so với hiện thực nhàm chán. Chính trong
Thuế biển Phạm Thị Hoài đă bộc lộ
sự mỏi mệt tất yếu của một
người luôn luôn phải gắng sức đề
gồng ḿnh lên, là tất cả, chỉ trừ là bản
thân ḿnh. V́ thế không ǵ đáng ngạc nhiên trong Thuế
biển những cố gắng của người đàn
bà - muốn - là - người - mạnh - mẽ luôn luôn
thất bại, và cả tác phẩm ch́m trong một hoài
niệm nhức nhối triền miên. Có cảm giác chị
đang nén vào trong những giọt nước mắt, có
thể oà lên khóc vào bất cứ lúc nào. Và cũng ít ở
đâu Phạm Thị Hoài lại viết về con
người tŕu mến và dịu dàng đến thế.
Cùng
với cái chết của người yêu, tâm hồn cô gái
như đă tách ra thành hai nửa, cái nửa đẹp
đẽ nhất lùi lại vào quá khứ và những ǵ c̣n
lại chỉ đủ để cô duy tŕ cuộc
sống xă hội. Hành tŕnh về với biển đánh
thức trong cô cái nửa ấy, nhưng t́nh yêu
được lư tưởng hoá với những
người đă mất là cô không thể chấp nhận
được hiện thực. Cô đă đánh mất xúc
cảm trước thực tại. Xúc cảm chỉ c̣n
giành cho những ám ảnh của quá khứ... Cuộc
sống trước mắt thờ ơ vô cảm của
cô chỉ c̣n toàn những lố bịch, kệch cỡm.
Cả
truyện ngắn là một tập hợp những nét
tương phản. Một thiên nhiên hùng vĩ là biển và
một băi biển giống hệt như một băi chợ
huyện. Một nhà viết kịch chuyên xếp đùi cho
các thiếu nữ để chụp ảnh. Bóng dáng hư
ảo của một chàng trai có ”một phần ba
gương mặt phía trên ảm đạm cùng cực
chuyển dần sang một phần ba khuôn mặt ở
giưă đă sáng sủa hơn, rồi một phần ba
phía dưới tươi đẹp lạ thường
“, luôn luôn hiện ra bên cạnh h́nh ảnh một gă đàn
ông nghệ sĩ giả hiệu với những lời ”
chỉ giáo nghe như sấm“, tất cả tô đậm
thêm nỗi buồn và sự cô đơn của cô gái.
Những cái tầm thường của cuộc sống
cứ đè măi lên cô, chèn ép những hồi ức
tươi đẹp, để rồi hành động
cuối cùng của cô xảy ra như một tất
yếu. Chính sự tất yếu này giải thích tại
sao sự bùng nổ của tâm hồn, của cơn
phẫn nộ lại được mô tả một cách
hết sức chậm chạp và mang đậm tính thơ.
” Tôi bất giác giơ tay ra rất nhẹ nhẹ như
một lát gió quyện vào thành chuông mà thôi. Ông ta bay từ
độ xanh này đến độ xanh kia, mất hút
giữa hai thái cực xanh“. Và câu tự sự chua chát
của cô gái ở kết cục ” Không ai chờ tôi. Anh đă
đi theo những nàng tiên cá“ giữ măi trong ta là những
dư vị đắng cay của câu chuyện. Chắc khi
đến với biển, cô gái đă thầm mong chờ
có một sức mạnh thần bí nào đó đưa
người yêu cô trở lại trần thế, nhưng
phép lạ đă không xảy ra...
Có
thể, những ” mảnh địa ngục trầm luân“
trong Thuế biển là chiếc nền tối làm nổi
lên nỗi khao khát t́nh cảm con người. Nhưng
điều đáng nói là ở chỗ, Phạm Thị Hoài
đă giúp ta nh́n thẳng vào những điều tầm
thường của cuộc sống cho ta thấy những
nhỏ nhen ti tiện của những ǵ đang diễn ra
xung quanh. Và ” những mảnh thiên đường thuần
khiết “ trong truyện ngắn này của chị
đến lượt nó, làm sống lại trong ta
những ǵ mà chúng ta đang đánh mất dần.
- Hà nội 12.10.1995
Chân dung Phạm Thị Hoài
(Ghép từ
những thông tin và nhận định đă công bố trên
báo chí và phổ biến trên lưới ở Việt Nam
cũng như ở Hải ngoại)
Phạm Thị Hoài (PTH) sinh năm
1960 tại Gia Lộc, Hải Dương, trong một gia
đ́nh đầy mâu thuẫn không cho phép một tuổi
thơ êm ả.
Cha người Nông Cống, Thanh
Hoá, gọi tên tay sai bán nước Phạm Quỳnh là bác,
ông nội làm đốc học tỉnh Thanh từng
cộng tác chặt chẽ với chính quyền thực
dân-phong kiến. Mẹ người phố Châu Long, Hà
Nội, nhà chuyên buôn hàng tấm, nhiễm lối sống
thị dân sa đoạ khi những cô gái cùng lứa đang
đổ máu và mồ hôi trên những nẻo
đường kháng chiến. Tuy cha mẹ PTH đều là
giáo viên, nhưng sự uất ức khi bị đầy
ải từ cuộc sống ăn trên ngồi trốc
của con nhà quan và con nhà buôn xuống cảnh lầm than
ở các làng xóm nghèo của tỉnh Hải Dương,
nơi họ bị phân công đi dạy học, đă
khiến họ mặc cho con ḿnh thất học.
PTH không được theo học
đầy đủ các lớp, h́nh như đă nhảy
cóc qua hai lớp đầu mà vào lớp ba. Cái lỗ
hổng kiến thức sơ đẳng ấy cả
đời vốn đă không lấp nổi, lại
cộng thêm hành trang rỗng tuếch của việc
học hành loạng quạng đèn dầu nơi sơ tán,
ngắt quăng v́ tiếng c̣i báo động, đầu óc
bị phân tán và chia cắt tới từng phân vuông vải,
từng gam ḿ chính trong các ô tem phiếu, khiến sau này,
bị ám ảnh bởi mặc cảm thất học,
ả đă hết sức nỗ lực đào thoát
khỏi thành phần xuất thân ấy, trở nên một
học tṛ hănh tiến, t́m mọi cách lọt qua kỳ thi
tuyển sinh viên đi học ở nước ngoài vốn
khét tiếng khe khắt. Từ nông thôn Việt Nam ả
nhảy dù xuống trung tâm văn minh Đông Berlin, theo
học ngành lưu trữ tại Đại học Humboldt.
Tại đây, một mặt ả tiếp tục chối
bỏ quá khứ thất học của ḿnh bằng cách làm
một con mọt sách, nốc vội nốc vàng mọi
thứ vào bao tử thành bội thực, tẩu hoả
nhập ma, rút cuộc chỉ tiêu hoá nổi những
cặn bă của văn minh phương Tây. Mặt khác,
ả dùng thành tích học tủ, với số điểm
luôn đạt mức tuyệt đối của ḿnh, làm
sức ép, khiến đại sứ quán Việt Nam tại
Đông Đức đành làm ngơ trước lối
sống ngày càng tha hoá, dâm loạn, vô tổ chức và ra
vẻ nổi loạn kiểu dê non háu đá của ả.
Quá tŕnh mất gốc và bệnh hoạn của PTH h́nh thành
trong chính thời gian này.
Trở về nước, không
được trọng dụng, chỉ được
giao một chân khiêm tốn là công tác tư liệu tại
Viện Sử học ở Hà Nội, PTH ngày càng bất
b́nh. Lợi dụng thời gian nhàn rỗi, ả chỉ
ngồi đọc sách vỡ hàng rổ kính và nhen nhóm ư
định trả thù xă hội. Do quá buồn chán, ả
cũng theo học các ngoại ngữ khác như Anh, Pháp và
Hán Nôm, để một thời gian sau dùng những
bằng cấp kiếm cơm này làm đường
tiến thân, cuối cùng cũng xin xỏ được
vào làm cán bộ nghiên cứu của Viện Tôn Giáo thuộc
Ủy ban Khoa học Xă hội VN. Nhưng môi trường
nghiên cứu hàn lâm đ̣i hỏi những đức tính mà
PTH không thể có nổi, như sự nghiêm túc, chính xác,
trung thực và nhất là một nền tảng kiến
thức và học vấn vững chắc, trong khi PTH
chỉ nổi tiếng với những phát ngôn bừa băi
đầy cảm tính, sự học mót, học gạo,
sự láu cá và những lỗ hổng kiến thức kinh
hoàng, thậm chí ả nhầm Lăo Trang là một
người, không biết tên thật của Phật
tổ, hoàn toàn mù tịt về cấu tạo của
chữ Nôm, đến Lê Thánh Tôn và Nguyễn Bỉnh Khiêm
cũng không biết nốt. Thấy tương lai khoa
học xa vời, lại háo danh, ả quyết định
chuyển sang một nghề có vẻ dễ ăn hơn là
viết văn.
Phạm
Thị Hoài đă gặp may. Bước vào làng văn
gặp ngay phong trào đổi mới, chỉ cần
viết cho có nét một chút, chửi đời thật
nhiều, chửi Đảng thật nhiều là thành anh
hùng được hâm mộ, được dịch ra
tiếng nước ngoài, PTH đă không bỏ qua cơ
hội này, tŕnh làng cuốn tiểu thuyết mini Thiên
Sứ. Tuy c̣n khá nhiều dấu vết của sự
bắt chước và làm dáng trí thức, chủ yếu là
bắt chước lối viết của các nhà văn
hiện sinh chủ nghĩa đă cáo chung, cộng thêm
một chút triết lư ranh mănh, những biếm nhẽ
đỏng đảnh, những cảm động
nhợt nhạt dễ thương và sự nổi đoá
con trẻ, nhưng tác phẩm này ít nhiều cũng gây
được một chút cảm t́nh ở một số
bạn đọc và được nước ngoài
chiếu cố trao tặng giải thưởng và dịch
sang nhiều thứ tiếng. Nếu quả PTH có một
chút tài hoa th́ cái tài ấy chậm nhất đến đây
là chấm hết, bởi lẽ không cái tài nào có thể
trường thọ nếu thiếu cái tâm, vả lại
cái tài của ả chủ yếu là ở sự cố t́nh
tỏ ra độc đáo, đánh vào thị hiếu
thời thượng của lớp trẻ. Sự may
mắn ban đầu đă làm ả loá mắt, coi
thường người đọc, tưởng từ
nay muốn nhào nặn văn chương ra những h́nh thù
quái đản ǵ cũng được.
Trong
thời gian này, ả cũng bỏ việc ở Viện
Tôn Giáo trước khi cơ quan đành cho ả thôi
việc v́ lư do thiếu năng lực và vô kỷ luật.
Sau này ả đă trả thù cho giai đoạn nhục nhă
này của đời ḿnh bằng cuốn tiểu thuyết
hết sức cường điệu là Marie Sến. Vô
cùng hằn học v́ việc không được kết
nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam, lại bị
Hội Nhà Văn phê phán rất chính xác là hạ thấp nhân
cách con người, ả bỏ vào Đồng Nai sinh
sống, đồng thời tuyên bố rằng cuộc hôn
nhân của ả với một người đồng
chủng là tù ngục và t́m mọi cách ly dị, để
chạy theo một người đàn ông Đức
nhẹ dạ đến Việt Nam du lịch, và có con
với anh ta, khiến anh ta phải kết hôn với
ả. Ả c̣n ép người chồng Đức phải
học tiếng Việt để có thể dịch tác
phẩm của ả sang tiếng Đức cho thêm danh giá.
Sau này, ả bắt mọi bản dịch sang các thứ
tiếng khác đều phải từ tiếng Đức,
trong khi ả vẫn viết bản gốc bằng
tiếng Việt. Mặc cảm nhược tiểu đă
khiến ả chối bỏ tiếng mẹ đẻ
của ḿnh như vậy, thật không lạ khi ả
chọn quê chồng làm quê hương, cuống quưt làm
bổn phận của một nàng dâu văn hoá, hết ḷng
tâng bốc nước Đại Đức mong
được thơm lây và cũng v́ lư do sinh kế,
chối bỏ gốc Việt của ḿnh khi bị
người Đức hỏi. Từ khi mợ nó đi
Tây, cô Kếu gái tân thời PTH chỉ c̣n một việc là
nện guốc vào đầu những nhà văn hoá lỗi
lạc của dân tộc, nhổ nước bọt vào
văn hoá phương Đông, mạt sát, xỉ vả không
tiếc lời cái đất nước Việt Nam đă
trót dại mà sinh ra ả, nă đại bác vào văn hoá dân
tộc, đốt ngôi đền văn hoá dân tộc
để chứng tỏ ḿnh là một tên đao phủ
chém giết không ghê tay. Bà mẹ nông dân nghèo khổ từng
mang nặng đẻ đau ra ả ở Thanh Hoá, nếu
biết ḿnh đầu thai ra một đứa con phản
phúc đến tanh tưởi như vậy, chắc
hẳn bà không c̣n sống nổi đến ngày hôm nay. Thái
độ phản bội vô ơn này c̣n bộc lộ khi
ả đang tâm cướp công, nẫng bản quyền và
chối bỏ những người từng d́u dắt
ả vào giới cầm bút ở Hà Nội và đỡ
đầu tinh thần cho ả một thời.
Trong quá tŕnh
băng hoại toàn diện như vậy, văn
chương của PTH mỗi ngày một tha hoá, càng rơi vào
vực thẳm, dường như đă gần
đến lúc hết thuốc chữa. Như người
nghiện hút thuốc phiện lâu ngày, liều lượng
chỉ tăng chứ không giảm, văn phong PTH ngày càng
mục rữa thối nát, nét khai phá táo bạo nổi
bật của buổi ban sơ đă biến thành mụn
nhọt lở loét mưng mủ, nhung nhúc ḍi bọ,
khiến những người từng mến mộ ả
nhất cũng đành phải lên tiếng cảnh
tỉnh. Song như một con thiêu thân, PTH chỉ dành cho
những thiện chí ấy cái bĩu môi khinh miệt,
miệng lưỡi chua ngoa độc địa, càng không
coi ai ra ǵ. Không có sự trông đợi nào khiến
người ta mệt mỏi và thất vọng cho
bằng: cùng với thời gian, qua mỗi trang viết
của những tác phẩm sau này như Man Nương, Marie
Sến, gần đây nhất là Ám Thị, PTH càng
đưa người đọc đến sự chán ghét
văn chương hiện đại, xô người
đọc vào vũng lầy bế tắc của xă
hội bằng một thứ ngôn ngữ kinh tởm khó
chịu, khiến người đọc thấy ḿnh
thấp kém y như những nhân vật trong truyện, v́
thế quá oan ức cho văn chương và quá tội cho
độc giả. V́ sao họ lại phải đọc
những tác phẩm sa đoạ, thô lỗ, sống
sượng như vậy? Con người dưới
mắt PTH là một loài vật vô ư thức, thô tục,
bẩn thỉu và man rợ. Sở trường của PTH
là dựng nên một thế giới bỉ ổi, lưu
manh, dâm đăng, đểu cáng và hèn hạ, nhằm khinh
rẻ, tởm lợm con người, sỉ nhục và thô
bỉ hoá giấc mơ của con người. Ả hoàn
toàn đánh mất khả năng khám phára cái tốt
đẹp của thế giới, nghĩa là đánh
mất thuộc tính quan trọng nhất của văn
học, vậy mà ả c̣n cả gan bày tỏ thái
độ bỡn cợt, khinh thị, nhạo báng nền
văn học của chúng ta, và công khai biến trang văn
thành câu lạc bộ bệnh hoạn của chứng
động kinh phi nhân tính, khinh rẻ và căm ghét con
người, t́m mọi cách thối rữa hoá linh hồn và
thể xác đồng loại trong cái nh́n bệnh hoạn
nhẫn tâm. Bị ám ảnh bởi văn hoá giường
chiếu, hành hạ bởi những ẩn ức t́nh
dục của cuộc sống ăn chơi trụy
lạc trước đây và phận làm dâu văn hoá
đầy mặc cảm dồn nén sau này, lại chịu
ảnh hưởng không tiêu hoá kỹ của phương
Tây như phân tâm học, và bắt chước một
số nhà văn Nhật Bản (PTH từng lợi dụng
danh tiếng để dịch cuốn tiểu thuyết
Nhật cực kỳ vô luân và thối nát nhan đề
Chiếc Ch́a Khoá, khiến nhà xuất bản phải
khốn đốn, cũng như ả từng gây tai
hoạ cho nhà xuất bản đă quá cả tin mà cho ra
mắt cuốn Man Nương, khiến giám đốc NXB
đó phải từ chức) ả không có cách nào khác là
thực hành một lối văn khiêu dâm nhớp nhúa,
lập hội quán libido, núp dưới tên tuổi của
Sartre và Camus, Kafka và Marquez, Proust và Joyce để triết lư
ba lăng nhăng dung tục nhằm câu khách rẻ tiền,
đua đ̣i bắt chước những phương pháp
sáng tác chợ chiều như
Chủ Nghĩa Phi Lư, Tiểu Thuyết Mới và Dă Thú
Mạt Kỳ, tiếp tục thói làm dáng trí thức
bằng khả năng nổi loạn dung tục. So ả
với những cây bút nữ viết rất bạo về
đề tài t́nh dục như Lệ Hằng, Nguyễn
Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng và
sau này ở hải ngoại có Cao B́nh Minh th́ họ chả
thấm vào đâu, không khác nào so gái nhà lành với gái làng
chơi. Văn chương PTH là thứ văn chương
đù ông đéo bà cho đă cái lỗ mồm. Qua ng̣i bút PTH,
con người, đặc biệt là con người VN,
đă bị tụt xuống ngang hàng với loài thú.
Cùng với
việc bỏ chạy ra sống lưu vong ở
nước ngoài, PTH đă t́m cách chơi một tṛ bi-a láu
lỉnh, tấn công vào những tổ tiên đă chết
để gián tiếp tỏ thái độ chính trị
với một thể chế mà ả không dám dương
đầu, vừa ăn điểm chính trị ở Hoa
Kỳ, vừa an toàn v́ chủ yếu đánh vào những
người đă chết, chửi đổng, nói xấu
sau lưng, xới tung lên những hận thù quá khứ
người ta đang muốn quên đi, để
đầu cơ nó. Do lầm tưởng rằng những
người Việt hải ngoại coi khinh dân tộc nên
ả cố khoét sâu vào những khía cạnh chính trị
nhạy cảm để gây ấn tượng, đem
mũi dao phi nhân tính của ḿnh cứa cho quá khứ toé máu
tươi ra một lần nữa.
Một cô đầm kệch
cỡm, chẳng phải Tây, chẳng phải Việt
kiều, cũng chẳng dám gửi trứng vào dạ con
của phụ nữ Tây
để đoạn tuyệt đến cùng với ḍng
máu Việt, một kẻ không phải người Việt
mà chui ở kẽ nẻ lên, một con điên lao theo
ảo tưởng, luôn làm điều trái với
đạo lư, ăn phải quá nhiều cặn bă Tây, càng
giả vờ suy tư, càng ra vẻ lư luận dẫn
đủ mọi chuyện đông tây kim cổ càng
chứng tỏ là một kẻ điên đang bới trong
đống rác thải của nền văn minh nhân
loại nhặt nhạnh đủ mọi thứ, ngồi
tỉ mẩn khâu lại chằng chịt thành một cái
quần thủng đít và đính cho nó một cái mác lư
luận văn hoá kiểu PTH, một kẻ như vậy
không đủ tư cách làm người mà chỉ là một
con quỷ h́nh nhân, chỉ là một kẻ có tài chửi
đổng và láu cá vặt, chỉ là kẻ bán rẻ
mầu cờ sắc áo v́ sinh nhai một cách thảm
hại, chỉ là đứa trẻ miệng c̣n hoi sữa
dám lạm bàn chuyện đại sự, nhưng thực
ra cũng chỉ là một kẻ đáng tội nghiệp.
Nếu biết hối cải, trở về trong ṿng tay dân
tộc, PTH chắc chắn sẽ lại có cơ hội
bồi đắp lại phần nào khả năng văn
chương đă mất mát của ḿnh, lấy lại
cảm t́nh của người đọc. Truyền
thống tốt đẹp của chúng ta là không bao giờ
đánh người chạy lại.
Nhiều tác giả - Phạm
Thị Hoài biên soạn
Thư trao đổi của
giáo sư Nguyễn Văn Trung với nhà văn
Phạm Thị Hoài
Mến
gửi chị Hoài,
Cánh Én gửi
cho tôi 2 số báo có bài của chị. Sau khi suy nghĩ tôi
xin gửi chị và ban biên tập Cánh Én vài ghi nhận
gợi ư dưới đây.
Thật
tiếc tôi chưa được đọc các tác phẩm
của chị để tự ḿnh nhận diện khuôn
mặt người trí thức, hay vấn đề trí
thức VN, mà theo Ban biên tập Cánh Én, là đề tài
tiềm ẩn trong các sáng tác của chị và bài nói
chuyện của chị là một phát biểu trực
tiếp, bằng ?ngôn ngữ chính luận thông
thường?quan niệm của chị về đề
tài kể trên. V́ hiện nay, chỉ có thể dựa vào bài
nói chuyện, nên tôi e ngại có thể không hiểu hết
hay không hiểu đúng những ǵ chị muốn gửi gắm
như một sứ điệp của nhà văn qua các sáng
tác của ḿnh, nên xin lỗi chị trước.
Nhà văn hay
nhà thơ xử dụng ngôn ngữ gián tiếp, h́nh
tượng ẩn dụ, tuợng trưng khêu gợi
những ǵ ḿnh trực quan mà đôi khi chưa thể
diễn tả thành lời và v́ những cảm quan đó
không c̣n thuộc lănh vực cái phi lư, cái có lư, mà đụng
tới cái bi đát. Phạm trù bi đát không xoá bỏ cái
phi lư hay cái có lư, mà chỉ vượt qua chúng. Hoặc nhà
văn nhà thơ dừng lại ở lănh vực thực
tế, nhưng đưa ra lối nh́n khác lạ không theo
những đường ṃn mà người ta vẫn theo
mỗi khi nói đến vấn đề gi, như thể
là nh́n theo những đường ṃn được coi
như chân lư hiển nhiên - đă hẳn là thế rồi.
Lối nh́n có khả năng mở đường vạch
lối thường bị coi là chọc giận, xúc
phạm, mang tính khuynh đảo, buộc người nghe
phải nh́n lại, đặt lại vấn đề.
Đó là vai tṛ của người sáng tác thơ,
truyện...
Một nhà
văn nữ người Pháp. Viviane Forrestier không chuyên
về kinh tế, đă đem kinh tế thế giới
của thời hiện nay vào tiểu thuyết. Đă
hẳn người đọc không thể t́m thấy trong
truyện những hiểu biết chính xác về kinh tế
thị trường, thậm chí có thể nhận ra
những thiếu xót về hiểu biết kinh tế của
một người không chuyên môn, nhưng điều quí
của cuốn truyện làủ ở chỗ đă
đưa người đọc vào một lối nh́n
mới về kinh tế, cho thấy những khó khăn
bất ổn, bất công không phải do kinh tế mà do
một chính sách về chính trị. Cuốn truyện
được dịch ra 24 thứ tiếng, bán trên 1
triệu cuốn.
Trong bài nói
chuyện, chị buộc người đọc phải
có những cái nh́n khác về cái nghèo truyền kiếp
của VN, gắn liền với khái niệm bất an,
như một nguyên nhân giải thích số phận của
một dân tộc, hay sự nghèo nàn, tŕ trệ, lạc
hậu của một nền văn học ở miền
Bắc mà người ta đă cho là do một chế
độ chính trị gây ra. Thế th́ một nền
văn học khác ở hải ngoại, cũng nghèo nàn, tŕ
trệ, lạc hậu, tẻ nhạt không thể
đổ lỗi do chế độ chính trị ở
trong nước, vậy tại sao? Do đó lối nh́n,
giải thích phải hướng tới những nguyên nhân
khác nhau không phải thuộc một chế độ chính
trị.
Tại sao
chị nói cái nghèo lạc hậu truyền kiếp của
VN đă là như thế, nhưng lại chưa bao giờ
có như ngày nayvà nguyên nhân, theo chị, là do sự bất
an, do t́nh trạng thiếu an toàn, yên tâm về tinh
thần. Phải chăng chị muốn ám chỉ một
chế độ chính trị gọi là xă hội chủ
nghĩa thực tế (socialisme réel) đă tạo ra t́nh
trạng bất an đó?
T́nh trạng
bất an tạo ra tâm trạng xao xuyến. Tâm lư học
phân biệt sợ và xao xuyến (angosse). Lo sợ có
đối tượng làm cho sợ: Sợ cái ǵ, sợ ai.
Đối tượng gây sợ hăi ở trước
mặt, có thể xác định được, nhận
diện được, do đó có thể t́m hiểu,
giải thích và t́m ra được biện pháp khắc
phục lo sợ. Trái lại xao xuyến là một lo sợ
không rơ đối tượng, nguyên nhân, nhất là không
thể xác định được đối
tượng gây xao xuyến là ǵ, từ đâu đến,
đến lúc nào, nên không thể đề pḥng. Ngay cả
khi đối tượng gây ra xao xuyến đă xuất
hiện, bắt chịu thử thách, thử thách đă
vượt qua được rồi cũng không rút kinh
nghiệm ǵ được để đề ra biện
pháp đề pḥng v́ trong tương lai, nó vẫn có
thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Con
người trong hoàn cảnh sống đó luôn luôn cảm
thấy bị đe doạ, đồng thời cũng
cảm thấy bất lực, buộc phải sống
trong một tâm trạng bất ổn thường xuyên v́
cái ǵ cũng chỉ là tạm. Người buôn bán
được cấp môn bài, tưởng rằng có
thể an tâm buôn bán v́ có đủ giấy tờ hợp
pháp. Nhưng một ngày nào đó, có thể bị dẹp
tiệm trong một đợt kiểm tra hành chánh.
Người buôn bán cảm thấy bị lừa dối.
Thực ra không phải lừa dối, vi buôn bán trong
đạo lư của một chế độ xă hội
bị coi là là xấu xa từ bản chất, cần xoá
bỏ. Tuy nhiên vẫn cho phép buôn bán như là một
biện pháp nhân nhượng tạm thời trong thời
kỳ gọi là quá độ. Hiểu như vậy, môn bài
không thể có nghiă một bảo đảm buôn bán là chính
đáng, mặc dầu không gian lận, lậu thuế.
Trong chế
độ cái ǵ cũng tạm thời như một nhà
thơ đă đúc kết thành vè đăng trên báo chí công
khai.
Vè chữ
Tạm
Nghe vẻ vè
ve
Nghe vè chữ
tạm
Lâu nay bị
lạm
ở xứ
nước ta
Chú Bảy anh
Ba
Công nhân giáo
chức
Lương
tháng mấy đồng
Tạm chi
tạm ứng
Chị Hai bán
thúng
Cô Bốn bán
chè
Lời
được bao nhiêu
Tạm thu
thuế buổi
Những ai
chống đối
Phe cánh
hổng cùng
Bày
đặt anh hùng
Tạm
thời nghỉ việc
Dân khi có
việc
Lên xuống
chục lần
Sốt
ruột tiêu gan
Tạm
chờ giải quyết
Bệnh
viện xuống cấp
Trường
học điêu tàn
Sữa
chữa cà tàng
Cũng v́
tạm rút
Kê không
hết xiết
Thư hăy
tạm dừng
Đổi
mới thẳng thừng
Dẹp ngay
chữ tạm
Lê Yên (Báo Sài G̣n Giải Phóng, ngày
22-02-1990)
Nhà thơ
đă tránh né đụng đến những cái tạm khác,
nhất là tạm tha. Tù chính trị thươụng không
bị đưa ra toà, giam giữ rồi nếu
được tha chỉ là tạm tha, do đó bất cứ
lúc nào cũng có thể bị gọi tŕnh diện và bắt
lại.
Cuộc
sống của mọi người bị đặt trong
t́nh trạng bất ổn thường xuyên về mọi
mặt, không phải chỉ người dân thường,
mà cả cán bộ cấp lănh đạo. Trong ư
hướng về chủ nghĩa xă hội lư
tưởng, cán bộ, đảng viên luôn phải cảnh
giác, học tập, kiểm điểm, phê b́nh và tự phê
b́nh, chỉnh huấn hết đợt này lại phát
động đợt kế tiếp, hết vấn đề
này đến vấn đề kia, để khỏi
mất lập trươụng, rơi vào sa đoạ.
Mặc dầu không ngừng phấn đấu, cố
gắng vươn lên cũng không có ǵ đảm bảo
chắc chắn được an tâm v́ luôn luôn vẫn có
thể bị nghi ngờ, trở thành đối
tượng có ?vấn đề phức tạp?mà không bao
giờ xác định rơ rệt được.
Nhớ
lại những lần đổi tiền, tôi không lo
đủ tiền và được bà con lối xóm cho thêm
tiền để đủ đổi, nhưng chắc
chắn biện pháp đổi tiền đă gây lo âu cho
nhiều người, kể cả những người
thuộc tầng lớp buôn thúng bán mẹt ở miền
Nam. Sáng sớm hôm sau ngày đổi tiền, tôi lên sân
thượng nh́n xuống phố phường bày ra quang
cảnh thật lặng lẽ vắng vẻ, tôi thực
sự cảm phục quyết tâm hủy diệt
ước muốn có, có của và có của riêng, không
phải chỉ ở nơi tầng lớp gọi là tư
sản, mà cả tầng lớp gọi là vô sản, và
người thuộc tầng lớp này có thể
ước muốn có, có của và có của riêng mănh
liệt hơn người gọi là tư sản.,
nhằm thực hiện tinh thần khó nghèo (1).
Người thực hiện tinh thần khó nghèo đạt
được thái độ thanh thản, an tâm v́ có ǵ
đâu mà sợ mất. Nhưng thực tế quyết
định hủy diệt ước muốn có, có
của, có của riêng của một chế độ chính
trị, bề ngoài chỉ mang tính chất xă hội, kinh
tế, thực ra bắt nguồn từ một ư
hướng mang tính chất tôn giáo. Tuy nhiên chế
độ chính trị lại không phải một tôn giáo.
Trong tôn giáo, người từ chối ước muốn
có của, ởmức độ cao hơn cả là lựa
chọn lối sống khổ tu và quyết định
lựa chọn của ḿnh là do tự giác tự nguyện,
dựa trên niềm tin đời này là tạm bợ và
hướng về một Thiên Đàng ở đời sau.
C̣n trong chế độ chính trị mang tính chất tôn giáo
ước muốn có của bị coi là bất chính và
mọi người miễn cưỡng buộc phải
từ bỏ mọi ước muốn có của chỉ
dựa vào hy vọng xa vời về một Thiên Đàng
được thực hiện ngay ở trần thế.
Ai dám
phủ nhận lư tưởng là không chính đáng, cao
đẹp. Vị thế trí thức sống trong một
chế độ như vậy không có con đường
nào khác là nhân danhlư tưởng cao đẹp đó
để phê phán những lệch lạc, sa đọa một
cách công khai. Đó là bản chất thái độ hay chũ
nghĩa gọi là xét lại. C̣n nếu không muốn bị
gán cho là xét lại, chỉ c̣n cách sáng tác thứ văn
chương dân gian một cách vô danh. Sau khi có chính sách
gọi là đổi mới, mở cửa, ngay cả
đảng viên từ nay cũng được tự do
kinh doanh làm giàu, ước muốn có, có của và có của
riêng được coi là chính đáng và hơn nữa
được khuyến khích. Sự kiện gọi là ?bung
ra?này vẫn c̣n đang tiếp diễn cho đến nay.
Xem các
băng video do Việt kiều thực hiện về
đới sống hiện nay ở các đô thị VN,
đặc biệt Sàigon, Hà NộI, Hải Pḥng, Nha Trang... ,
phải hiểu thế nào về cái nghèo hiện nay sau khi
có chính sách kể trên! Đó là vấn đề thuộc
thẩm quyền các nhà kinh tế, chính trị học.
Tuy nhiên cái
nghèo cũng c̣n được nh́n theo một khía cạnh
khác, không phải kinh tế, chính trị. Đó là lối
nh́n, t́m hiểu thái độcủa con người
đối với cái nghèo, từ thời xa xưa, cho
đến bây giờ. Xin nhắc lại, giới thiệu
bài nhan đề: ?Sắp tới ngày thủ đô, tâm
sự người Hà Nội?kư tên Quang Lợi, đăng
trong Nhân Dân số 10.328, ngày 3-10-1082. Người viết
tự nhận là ngươụi Hà Nội đă sống
qua nhiều chế độ, gợi lại cảnh
sống của người Hà Nội vào đầu thế
kỷ XIX, dưới ng̣i bút của Cao Bá Quàt, tà khu Đ́nh
Ngang gần Cửa Nam, người Hà Nội thời đó
đối xử với nhau thế nào? C̣n người Hà
Nội ngày nay đối xử với nhau ra sao, rồi
người viết nêu những câu hỏi: ?Văng
tục, bất nhă, vô lễ với người khác ở
ngoài đường, trong rạp chiếu bóng, đâu có
phải v́ không có tiền đong gạo? Tháo ghế của
công viên, bóc gạch lát hè, ăn cắp cửa chớp
của các nhà vắng chủ, đó là câu chuyện của
người có tiền làm nhà, đâu phải của
những người lương thấp? Để nói
với những người Hà Nội cho rằng, v́
đới sống người Hà Nội hiện nay khó
khăn nên mới tác động đến tư cách
đạo đức của con ngươụi và do
đó phải t́m nguyên nhân ở chỗ khác, không phải
tại cái nghèo. Người viết kết luận: ?Xin
hỏi người Hà Nội. Tại sao. Xin hỏi mỗi
tấm ḷng người Hà Nội? ?
Chị Hoài
thân mến, chị đặt vấn đề cái nghèo,
thiết tưởng cũng nên trả lời những câu
hỏi của ông Quang Lợi nêu lên trong thời bao cấp.
Sau cùng,
đề nghị nh́n vấn đề chị đặt
ra trong viễn tượng thu hẹp. Một vài ghi
nhận kể trên về nỗi bất an cho thấy,
đó là một khái niệm chủ chốt của triết
học hiện sinh, đặc biệt theo Heidegger và Sartre.
Triết học này có một số khái niệm khác,
chẳng hạn khái niệm dự phóng (projet). Con
người là một dự phóng hiểu theo nghĩa
khả năng vượt quá khứ, hiện tại
vươn tới tương lai. Chắc chị vẫn
nhớ nhiều câu ca dao, văn học dân gian mới so sánh
Hà Nội, Sàigon, Vacsovie... diễn tả tậm trạng
bế tắc sống trong một thời gian biến
đổi mà ngày hôm nay thua ngày hôm qua, nhưng chắc
chắn hơn ngày mai. Dự phóng về tương lai trong
xă hội chủ nghiă thực tế của con người
bị cột chặt chân vào hiện tại không thoát
khỏi được. Sự bất lực này đă
tạo ra những thái độ bám víu vào hiện tại,
như thể sống chỉ biết ngày hôm nay.
Một
ngườI đă gợi ư cho tôi về nếp sống
hiện sinh ở miền Bắc là Tuân Nguyễn, đă qua
đời. Anh kể cho tôi nghe một số nét thật
đặc biệt của nếp sống đó, không
thể t́m thấy ờ miền Nam trước 1975. Trong thời
gian quen biết, tṛ chuyện thân t́nh với Tuân Nguyễn và
một số bạn khác từ miền Bắc vào, một
vị lănh đạo tư tưởng nghệ thuật
ở Hà Nội đă đề nghị tôi viết về
hiện sinh và nhấn mạnh rơ ràng cần viết theo quan
điểm của tôi. Nhưng lúc đó, quăng 1980, tôi
chỉ mới thấy việc đó đặt ra trên sách
báo miền Nam, miền Bắc, đặc biệt liên quan
đến văn học và phê b́nh văn học. Tôi đă
viết một tập trên 200 trang và lấy một phần
đăng trên tạp chí ?Văn Học?ở Cali Hoa
Kỳ. Lúc viết tập này, tôi chưa nhận ra hiện
sinh là một nếp sống như một thể
chế (institution) trong xă hội chủ nghĩa thực
tế, mang tính cưỡng bách, áp đặt cho tất
cả mọi người, không phải chỉ là một
tự do lựa chọn của ḿnh của một vài cá nhân
như ở miền Nam trước 1975 và ở Âu Châu.
Chỉ
mấy năm sau, tôi mới hiểu nếu Tuân Nguyễn
đă cảm nhận được hiện sinh như
một thể chế, th́ những người khác cũng
như mấy vị lănh đạo văn hoá văn nghệ
ở trung ương cũng đă cảm nhận như
Tuân Nguyễn và đề nghị tôi viết lư luận
về nếp sống đó trong thực tế, không
phải chỉ trong sách vở. Hiện sinh như một
thể chế, đó là một khám phá mới lạ
thật lư thú, mà theo chỗ tôi biết, chưa hề
thấy ai đề cập đến ở Tây
phương, nơi vẫn tiếp tục t́m hiểu
về Hiện tượng luận hiện sinh, đặc
biệt được nhắc tới sao 20 năm ngày
Sartre qua đời. Nếu bản thân tôi không sống trong
chế độ xă hội chủ nghĩa thực tế,
chắc chắn tôi đă không thể cảm nhận
được thế nào là ?hiện sinh như một
thể chế?. Do đó tôi cần phải viết thêm
về vấn đề này để đáp lại yêu
cầu của giới văn hoá nghệ thuật ở Hà
Nội đặt ra cách đây trên 20 năm, nhất là
nếp sống hiện sinh như một thể chế vẫn
tiếp tục tác động vào xă hội VN, sau thời
kỳ gọi đổi mới, bung ra...
Tôi rất
muốn đọc thơ Tuân Nguyễn xem anh có nói ǵ về
vấn đề mà anh đă gợi ư cho tôi không. Tôi cũng
xin hỏi chị hoặc có ai đă ám chỉ nếp
sống kể trên trong các sáng tác của ḿnh?
x
x
x
Một cách
cụ thể, đi vào đề tài chị nêu lên: t́m
hiểu người trí thức trong hai tư cách: chính
thống và học tṛ, tôi nghĩ những ai muốn đóng
góp ư kiến, thiết tưởng nên tŕnh bày một công
tŕnh nghiên cứu của ḿnh, hay ít ra một
?monographie??về một khía cạnh của vấn
đề dựa vào tài liệu và chỉ phát biểu
từtài liệu ḿnh có mà thôi. Như vậy việc trao
đổi mới thực sự hữu ích trong đó
mọi người góp phần của ḿnh để
đạt tới một cái nh́n sát thực, bao quát, tránh
những tranh luận chỉ dựa vào cảm nghĩ
chủ quan.
Trong tinh
thần đó, vấn đề nêu lên có thể đặt
như sau:
1. Các chế
độ chính trị từ xưa đến nay ở VN
đă xử dụng trí thức thế nào và thái độ
của người trí thức đối với các chính
sách của những chế độ đó ra sao?
2. Những
nền văn hoá lớn nào đă du nhập vào VN và trí
thức VN đă phản ứng như thế nào?
Vào thời kỳ
những năm 80, tôi được yêu cầu phát biểu
về chính sách nên có thế nào đối với trí
thức cũ của miền Nam trước 75, và năm
1993, tôi cũng được ban Dân Vận đề
nghị cho biết ư kiến cùng với một số
vị khác về đường lối đổi mới
và chính sách đối với trí thức trong nước,
ngoài nước. Trước 1975, tôi đă có nhiều
dịp nói về vấn đề này. Bây giờ nh́n
lại, tôi tự hỏi có nên nêu vấn đề trí
thức như một vấn đề riêng biệt, t́m
hiểu trí thức là ǵ, vai tṛ của họ? Tôi thấy
chỉ ở VN, ở Pháp hay nêu vấn đề theo
kiểu đó. Hiện nay ở Pháp người ta vẫn
tranh luận ra nhiều sách. Người th́ cho trí thức
hết vai tṛ rồi, người nghĩ ngược
lại. Tôi không hiểu ở Đức, Nga có kiểu tranh
luận như vậy không, chứ ở Bắc Mỹ th́
không.
Về
đề tài thức nhất: Tư cách chính thống
của trí thức hay các chế độ chính trị
đă quan niệm và xừ dụng trí thức ra sao, tôi
đă có một công tŕnh nghiên cứu chuyên sâu. Tôi dựa vào
sự phân biệt của Gramsci Tổng bí thư
đảng CS Ư, một thời vào những năm 70,
được coi như một thứ Lênin lư thuyết gia
của CS châu Âu. Gramsci phân biệt trí thức hữu cơ
, do chế độ đào tạo ra và trí thức
truyền thống, do các chế độ tru+o+’c tạo ra
và chế độ hiện tại t́m cách xử dụng
lại bằng đường lối cải tạo. Tôi
đă t́m hiểu chế độ thực dân Pháp xử
dụng trí thức thế nào qua trường hợp Tạp
chí Nam Phong và nhân vật tiêu biểu là Phạm Quỳnh và
Trương Vĩnh Kư, mà chị đă nhắc qua.
Thời VNCH
(1955-1975) tôi sống trong đó nên hiểu cách người
Mỹ cải tạo trí thức do Pháp đào tạo và cách
họ đào tạo trí thức theo lối Mỹ, nhưng
chưa có công tŕnh nghiên cứu khoa học. Những
người đă từng sống ở miền Bắc
theo chế độ từ 1945, sẽ đóng góp bằng
những công tŕnh nghiên cứu cách chế độ quan
niệm và xử dụng trí thức. Chỉ sau khi có
những công tŕnh như vậy, mới tạm rút ra
được một số ghi nhận về đề
tài này.
Về
đề tài thứ hai, tôi đang theo đuổi một
công tŕnh nghiên cứu về các nền văn hoá Trung Hoa, Âu
châu du nhập VN, trí thức VN đă phản ứng ra sao,
qua đề tài t́m hiểu lư luận về dịch
thuật. Đây là vấn đề lớn nhất
hiện nay ở các nước phương Tây, bao quát không
chỉ lănh vực dịch từ tiếng này, văn hoá này
sang tiếng khác, văn hoá khác, mà ngay trong khuôn khổ
một tiếng, một văn hoá v́ụ hiểu là
dịch. Vấn đề tôi đặt ra là: Tại sao
ở Đức, Martin Luther qua việc dịch Kinh Thánh ra
tiếng Đức đă giải thoát nước Đức
ra khỏi sự khống chế của tiếng La Tinh và
ông đă trở thành một người khai phóng, xây
dựng tiếng Đức, văn hoá ở Đức.
Tại sao ở VN nhà Nho, nhà sư không thực hiện
một giải thoát tương tự đưa VN ra
khỏi sự kiềm chế của chữ Nho, văn hoá
Trung Quốc, mở đầu một nền văn
học qua việc dùng tiếng Việt, chữ Việt là
chữ Nôm, Quốc ngữ? Nhưng có những nhà Nho, nhà
sư theo đạo Chúa làm được việc đó .
Trong bài gợi ư, chị cũng đă nêu lên vấn
đề chữ Nôm, quốc ngữ. Tôi đă viết xong
một tập gần 100 trang viết tay, tạm đủ
để nêu vấn đề mà chị đă đặt
ra, làm cơ sở thực tế cho việc trao đổi
ư kiến.
Nguyễn
Văn Trung
Montreal,
cuối tháng 5-2001
Về
thư của Phạm Thị Hoài
Đỗ Minh Tuấn
Thưa các anh chị,
Khi được giới thiệu về Diễn
đàn Liên mạng này với nhiều tên tuổi quen
biết tôi đăhào hứng đăng kư tham gia. Song,
rất tiếc là mặc dù đă được đưa
tên vào List, tôi mới chỉ nhận được hai
messages từ List của anh Lê Quốc Tuấn và anh
Nguyễn Anh Cơ trong ngày đầu tiên, sau đó không
nhận được message nào nữa; Vào Web bị firewall.
Tôi đành phải nhờ anh
Đỗ Quyên gửi cho những bài tiêu biểu, thành
ra không nắm bắt hết những ư kiến của các
anh chị. Tuy vậy, qua
những bài anh Đỗ Quyên gửi tôi thấy có nhiều
điều thú vị và bổ ích.
Tôi chưa tham gia trao đổi một phần v́
sự gián cách kỹ thuật làm mất hứng, một
phần v́ bận, một phần v́ đọc những bài
của các anh chị tôi thấy đă nói khá đầy
đủ , sâu sắc và thấu đáo về bài của
Phạm Thị Hoài (PTH). Nếu muốn nói ǵ khác phải có
một cách tiếp cận mới, có thể hài hước
hoặc nghiêm túc, nhưng phải thoả thụân về
luật chơi trước khi tung ra cách giải mă mới
này.
Tôi
cũng cho rằng bài nói của chị PTH chưa
được chị xem lại; v́ có một chỗ theo
logic th́ phải là chữ
" khổ dâm ", nhưng không biết do băng không rơ
hay do người ghi né tránh chữ này nên viết thành "
khổ dân", "làm khổ dân" rồi ghi dấu
hỏi nghi vấn bên cạnh. Tôi tin đó là chữ
"khổ dâm" v́ góc nh́n sex là thường trực trong
văn chương PTH, hơn nữa, trong câu đó có
đề cập đến vấn đề
"sướng", nếu gắn với " khổ
dân " th́ khiên cưỡng quá. Nếu đúng như
vậy th́ đó là lỗi của báo Cánh Én, nó là sai lệch
diện mạo tư duy của tác giả, chuyển
trường liên tưởng từ lĩnh vực sex sang
lĩnh vực chính tri, từ kỹ nghệ làm t́nh sang
kỹ nghệ quản lư. Liệu c̣n lỗi " phiên
dịch " nào như thế nữa không?
Tuy nhiên, trong thư PTH gửi Diễn đàn có mấy
ư tôi thấy chưa hiểu đúng bản chất của
cuộc chơi và chưa nắm được quy luật
vận hành của xă hội thông tin trong thời đại
truyền thông:
1- Bài nói của PTH thực sự là một
bước dấn thân vào cuộc chơi truyền thông,
quảng cáo và siêu quảng cáo. Nghệ thuật diễn
thuyết đ̣i hỏi những thao tác gây ám thị
bằng h́nh tượng, bằng cường điẹu
để lôi cuốn người nghe. Những học
giả nghiên cứu về tâm lư quần chúng đă đi
đến nhận định rằng khi đă tụ
họp bên nhau như một đám đông th́ các học
giả cũng trở thành cảm tính, dễ bị kích
động. Do đó, diễn giả càng cực đoan và
gây ấn tượng, càng khiêu khích th́ càng có sức mạnh
ám thị PTH là một nhà văn mạnh về những h́nh
tượng ấn tượng, khiêu khích nên phù hợp
với cuộc chơi này. Chắc là buổi nói chuyện
đă tạo được không khí, và cái không khí đó
đă đè bẹp ư chí phản kháng của một số
thính giả thấy bị xúc phạm nhưng không lên
tiếng. Và không khí ám thị đó cũng là cái bệ
đỡ để PTH phát ngôn một số khẩu khí cao
ngạo như ở lời kết thúc mà anh (chị) Phù Vân
đă dẫn ra có ư chê.
Tôi nghĩ trong nghệ thuật hùng biện th́ cao
ngạo là một đạo lư, nuôi dưỡng
được sự cao ngạo là thể hiện một
sức mạnh của tự tin, của ư chí. Cái gặt hái
có vẻ phi lư đó của nghệ thuật hùng biện,
oái oăm thay, lại là do ân sủng của khoảnh
khắc. Những lời lẽ lên gân, quyết đoán
của chính khách đă làm công chúng rồ lên trong một
khoảnh khắc nào dó, khi xem lại hoá ra chỉ là một
mớ chữ nhảm nhí. Do đó, đ̣i xem lại,
kiểm duyệt lại, biên
tập lại, bổ sung, chỉnh lư những điều ḿnh
nói là một đ̣i hỏi ăn gian. V́, những
điều nhảm nhí đó đă được
người nghe tung hô (và vẫn c̣n đang được
tung hô) bởi chính sự nhảm nhí lầm lẫn trong
khoảnh khắc hùng biện đó. Nếu như
đọc một bài viết có sẵn hay nói một cách
logic, chuẩn xác như sau khi chỉnh lại, th́ có khi
hiệu quả buổi diễn thuyết lại tẻ
nhạt chán phèo. Đó là sự công bằng của tạo
hoá với lao động của nhà chính trị, nhà buôn và
trí giả. Nhà chính trị có
thể ngu xuẩn, dốt nát, chữ tác đánh ra chữ
tộ nhưng bằng quyền lực của vũ khí,
đồng tiền và ngôn ngữ, anh ta có thể lôi
cuốn được đám đông. Anh ta sẽ thành
huyền thoại, thành lănh tụ và cũng sẽ bị
giải huyền thoại, bị lật đổ v.v... C̣n
nhà học giả có thể được kính trọng v́
tri thức uyên bác, chính xác và thái độ khiêm cung, nhưng
đổi lại là sự hờ hững của đám
đông - không bao giờ họ có cac fans như những
người cực đoan, ít học hơn họ đă
có.
PTH vừa muốn giữ nguyên hào quang do cách tŕnh bày
cực đoan giật gân, sai lầm đưa đến,
lại vừa muốn được nh́n nhận như
một học giả điềm tĩnh, chính xác là vô lư.
2-
Tất cả nhưng trí thức mà PTH đánh giá thấp
đều là những người đă và đang chịu
thử thách của thời gian. Trong số họ có
nhiều người vĩ đại nhờ trí
tụệ thăng hoa trong khoảnh khắc.
Một vị sứ thần Việt Nam khi sang Trung Hoa
có thể v́ một lúng túng dại dột hay nhầm
lẫn trong khoảnh khắc đối đáp mà bị
mất đầu, mất nước hoặc mất
thể diện quốc gia. Họ không thèm xem lại,
sửa lại những điều ứng phó trong khoảnh khắc, nhưng
họ đă thành lịch sử, thành huyền thoai. Các
bậc thầy tư tưởng tôn giáo của nhân
loại như Chúa Jesu, Phật Thích ca, Khổng tử...
hầu hết đều phát ngôn trong t́nh huống cụ
thể và được học tṛ ghi lại. Có bao giờ họ lại thèm
thanh minh rằng: "Tôi có diễn văn viết sẵn
đâu, tôi nói trong một giờ đồng hồ, có
độ dăm chục người nghe tôi nói nên chất
lượng chỉ thế thôi". Chẳng lẽ nói cho
nhiều người nghe, nói dài thời gian hơn th́
sẽ không bị nhầm về Bụt, về chữ Nôm,
về chữ Triều Tiên, chữ Nhật, v.v... ? Do đó,
vấn đề không phải là ở thời gian, ở
phương thức truyền dạt và đối
tượng truyền đạt, mà ở backgroun. Nếu
có background tốt th́ nói một câu cũng chuẩn xác. PTH
phê phán tất cả trí thức VN xưa nay căn cứ
vào tất cả nhưng hoạt động nói và viết của họ, vậy sao những người
khác lại không thể phê phán
những lời nói của PTH?
3- Từ năm 1957, trong cuốn "Các hệ
thống huyền thoại" Roland Barthes đă chỉ ra
rằng nội dung được media truyền đi là
kết quả của một trật tự biểu
trưng vô thức và chính nó quyết định trật
tự này. Ông đă thành công trong việc xây dựng bộ
môn Phù hiệu học và mô tả nội dung truyền thông
thành ngai vàng của các huyền thoại đương
thời. Song, quan niệm về sự tiếp nhận các
biểu trưng này không h́nh thành một lúc mà có một quá
tŕnh phát triển gần hai thập kỷ, chi phối các
kỹ nghệ truyền thông.
Trước thập kỷ 80, giới nghiên cứu
về truyền thông thế giới c̣n loay hoay t́m lư lẽ
cho truyền thông chiều thẳng đứng, nghĩa là
rót thông diệp xuống người tiếp nhận
với tham vọng kiểm soát mọi nội dung và
hiệỳu quả của tín hiệu, biểu trưng.
Nhưng từ sau thập kỷ 80 , các nhà nghiên cứu
dăphát hiện ra quyền giải mă khác nhau của
người tiếp nhận tuỳ theo hoàn cảnh riêng
của ḿnh đối với các huyền thoại kinh tế, văn hoá hay
chính trị. H́nh như Staturt Hall, Giám đốc Trung tâm
Văn hóa dương đại của trường
Tổng hơp Birmingham, vao du thập kỷ 80 đă
đề xuất chương tŕnh nghiên cứu về
tiếp nhận kư hiệu truyền thông, theo đó tư
tưởng chủ chốt được nhập mă trong
thông điệp truyền thông không nhất thiết
phải trùng với mă thông điệp lọt vào
người tiếp nhận. Nhiều trường phái
trong khoa học tiếp nhận đều đi
đến nhất trí về nguyên lư tṛ chuyện hai
chiều giữa nguồn tín hiệu và người
tiếp nhận. V́ thế, cái t́nh trạng "thầy bói
xem voi" là cảnh quan hợp pháp hợp lư và update
của thời đại truyền thông.
Người quảng cáo
Cocacola phải lường trước được có
những tiếp nhận mang tính phê phán như PTH đă
dẫn ra để đ̣i một consensus. Không cần có và
không thể có một consensus trong cuộc hội truyên thông.
Khi đă phóng một biểu trưng vào vũ trụ
tiếp nhận, không thể đuổi theo nó để
vặn lại ốc vít, đánh bóng mạ kền hay
tiếp thêm dầu nhớt. Sẽ có người tiếp
nhiên liệu và đaị tu nó hoặc phá huỷ theo
quyền của họ. Người ta đă dẫn ra ví dụ
về một thông điệp bảo vệ phụ nữ
mang bên trong những h́nh ảnh khiêu dâm lại khiến
người tiếp nhận là chiến sĩ tiền phong
trong phong trào b́nh quyền nam nữ lên án, và kết qủa
là thông điệp bị người này bác bỏ.
4- Người ta cũng
nhận xét rằng, thời đại truyền thông đă
hạ bệ người phụ nữ xuống thành
người nội trợ hoặc kẻ chào hàng. Đó là
quy luật nghiệt ngă. Cho nên, đă dấn thân vào sân
chơi truyền thông (đăng đàn, trả lời
phỏng vấn, quảng cáo, siêu quảng cáo...) th́ không nên
đ̣i hỏi ưu đăi về giới. Những khái
niệm về tôn trọng phụ nư ờđưa ra
ở đây là ngó ngẩn, yếu, vô lối, trong khi
bản thân cách chơi của ḿnh là không cần tôn trọng
bất kỳợ người VN nào, kể cả
người sống lẫn người chết,
người già và người trẻ nữ giới và nam
giơi. Cũng không nên dựa vào tư cách nhà văn
để hỗ trợ cho những luận điểm
tự nó không đứng vững của ḿnh.
Trong thực tế, qua
những bài đă post, tôi thấy diễn đàn này tỏ
ra rất tôn trọng nhà văn PTH. Hào quang của nhà văn
vẫn c̣n nguyên, thậm chí các fants của diễn giả
PTH vẫn c̣n không ít trên forum và khá cuồng nhiệt.
Huyền thoại vẫn được củng cố,
nhưng việc giải huyền thoại và giải mă văn bản vẫn
bị khống chế trên tinh thần đạo
đức diễn đàn truyền thống, sợ đi
đến cùng vấn đề th́ xâm phạm đời
tư (cũng có thể là không muốn nâng PTH lên tầm
Clinton, Diana để được nói về đời
tư chăng?) Vậy tôi không biết các anh Đỗ Quyên
và Phạm Hoàng phải xin lỗi ǵ?
Vài ḍng viết vội góp lời với các anh chị.
Hẹn sẽ viết bài đàng hoàng bàn về vấn
đề chung đặt ra trong hai bài viết của
Phạm Thị Hoài và Hoàng Ngọc-Tuấn .
Kính chúc các anh chị mạnh khoẻ.
Lê Quốc
Đạt
Câu hỏi
định hướng đến là: Người trí
thức có trách nhiệm với đất nước không?
Câu hỏi
đó c̣n tổng quát, nên có thể khai triển thành ra các câu
hỏi sau:
1. Thế nào là trí thức?
Trí thức Việt?
ở nước ta, có
một sự khác biệt rất lớn về thời
gian. Nên có sự phân biệt
chi tiết hơn:
a.
Trong thời quân chủ: Nhà
nho, kẻ sĩ, giới sĩ phu
b.
Trong thời cận, hiện
đại: Trí thức, chuyên viên
c.
"Giao t́nh giữa văn
chương và thời thế" " Nhà văn nói về
chính trị ố Vấn đề trí thức Việt
nam"
-
Nhà văn và trí thức : Có phải ai cầm bút
víêt văn, làm báo, cũng là
trí thức không?
-
Chính trị, thời thế và cai trị, cầm
quyền: có khác nhau không?
Khi đánh giá, phán đoán, nên
tôn trọng bối cảnh lịch sử và thời gian.
(Phải
chăng trí thức là một thái độ - phẩm tính,
tạo thành nhân cách?)
2. Nếu cho trí thức có trách nhiệm với xă
hội, đất nước:
a.
Tại sao lại có trách nhiệm?
Trách nhiệm đó từ đâu tới? Ai cho? Có
được xă hội công nhận không? xă hội
chấp nhận đến đâu?
b.
Trách nhiệm đó là ǵ? Tiêu
chuẩn ra sao? mức
độ đến đâu? do đâu qui định
xếp đặt? Có thay đổi theo thời gian? không
gian không?
c.
Các giới khác (ngoài trí thức) có
trách nhiệm không? Khác?
- Trách nhiệm như thế nào? đến
đâu? ra sao?
- Khác biệt và có liên hệ như
thế nào với trách nhiệm của giới trí thức?
(Trách nhiệm và tự do: phải có tự do, mới
thể hiện được trách nhiệm?)
3. Có thể trả lời là không cho câu hỏi chủ
đề được
không?
a.
Trí thức không
có trách nhiệm ǵ với tư cách là trí thức
b.
Hay có trách
nhiệm nhưng không có ǵ đặc biệt - ai cũng như nhau, trí thức
hay không à với đất nước
c.
Nếu không
nhận trách nhiệm, hay không có trách nhiệm đặc
biệt, có c̣n là trí thức không?
(Xă hội là tập hợp, vậy trách nhiệm là
tập thể ? chung và như nhau giữa trí thức và các
giới khác?
Trí thức chỉ thực hiện được
sứ mạng của ḿnh trong tập thể đồng
thuận?)
4. Phê phán trí thức Việt:
a.
Tiêu chuẩn:
- Tính chất: Thái độ hay hành
động?
- Đối tượng tác động: Chính trị? Xă
hội?
b.
Nếu nói
về tư cách của trí thức Việt: có phải
họ chỉ đi với kẻ cầm quyền? Là
học tṛ học nửa vời của nước ngoài
không? Tại sao?
c.
Những
người trí thức Việt đă làm được ǵ?
- Trong quá khứ?
- Trong thời chúng ta?
- Thất bại? Thành công? Theo
tiêu chuẩn nào? Ra sao? Đến đâu?
- Tại sao thành công hay thất
bại?
(Có phải họ hành động như lịch
sử ghi lại là v́ họ
là trí thức không? Hay chỉ v́ là người yêu
nước, có ư chí, can đảm có thaí độ?)
5. Các câu hỏi trên sẽ có
thể mở rộng ra, đưa đến:
a.
Sự phân
biệt các tầng lớp trong xă hội. Phân biệt
như thế nào cho hợp lư trong xă hội VN?
- trên căn bản học
vấn/khả năng suy nghĩ, thái độ?
(trí thức/không trí thức)
- trên căn bản quyền
lực? (kẻ cầm quyền/người
bị trị)
- căn bản kinh tế ? (kẻ có ăn có
mặc/kẻ khốn cùng)
- có cách phân biệt nào khác nữa
không?
b.
Tương
quan giữa các tầng lớp trong xă hội, nhất là
trong xă hội chúng ta, các lực lượng, tầng
lớp xă hội, các bộ phận của nó tác
động nhau ra sao? Tính chất các tác động ra sao?
Tại sao?
c.
Vai tṛ
của con người với xă hội ḿnh sống,
đất nước ḿnh sinh ra? thời đại
của ḿnh? muôn ngàn năm sau?
d.
Trong xă hội chúng ta:
Có ăn, có
mặc > có học, trí thức +
cầm quyền = có cơ hội tác động vào
thời sự, xă hội
Tại sao cái phương
tŕnh đó? Có đúng không?
ở các nước khác (nơi chúng ta đang
sống) ra sao? Có khác biệt?
Tại sao ?
6. Cuối cùng ố nếu tin vào trách nhiệm
của trí thức: tin là có
sự tác động từ giới trí thức vào xă
hội và thời đại?
Vậy:
a.
Trí thức tác động như
thế nào vào xă hội? thời đại, đất
nước?
b.
Từ vị thế nào:
-
Có cần thiết là phải ở trong vị
thế cầm quyền không?
(phải tham chính?)
- Có phải ở trong các tổ
chức kết hợp không? (phải
lập đảng, hội?)
- Có phải ở trong vị
thế cầm bút không? (phải viết văn, làm báo,
"toạ đàm"?)
c.
Tri thức
và quyền lực? Quyền lực tác động
vào trí thức?
Lợi và danh, chuyện tự
ngh́n xưa?
Trí thức bị tha hoá, mất
gốc, vong thânà thế nào? ra sao? V́ đâu ???
(Liên hệ đặc biệt? Trí thức bị
quyền lực thay đổi?
Văn chương bị chính trị vây toả?)
7. Làm ǵ? Làm được không?
Tương lai?
Những nhận xét cá nhân, chủ quan:
a.
Trong tôn giáo,
người ta rao giảng (những niềm tin, giáo
điều) trong chính trị, người ta tuyên truyền
(cho các chủ nghĩa, chính sách), trong thương măi,
người ta quảng cáo (cho mọi thứ có thể bán
buôn có lời được) Người trí thức làm sao
để không rơi vào những bẫy, các "mê hồn trận"
đó?
b.
Tại phương Tây, Bertrand Russell
(1872-1970), J. P. Sartre (1905-1980),
Noam Chomsky... là ai? Có thể học được ǵ ở
họ?
(Ngày hôm nay, ở nước ta, có ai là trí thức?
Khả năng thật sự ra sao?
Họ có thể đóng vai tṛ giáo dục đồng
bào, chỉ đạo hay soi đường cho dân tộc
được chưa?
Trước các vấn đề của đất
nước, đâu là lời giải của họ? Giá trị ?
Nếu được tham chính, cầm quyền,
họ có đảm đương được không?
Triển vọng ra sao?)
Từ vốn
sống và vốn học riêng, mỗi người trong chúng
ta sẽ đưa ra những lời đáp khác nhau.
Trả
lời được hay không, ít hay nhiều, các câu hỏi
trên sẽ c̣n quay trở lại, đặt lại. T́m
kiếm lời đáp là một hành tŕnh dài.
Trong lúc này, v́
suy nghĩ trước các câu hỏi chung, nên các lời
đáp khác nhau sẽ soi sáng lẫn nhau. Đó là ư nghĩa
của sự trao đổi. Làm giàu có chung cho tất
cả chúng ta tham dự vào cuộc thảo luận này.
Khi t́m cách
trả lời các câu hỏi trên, mỗi người sẽ
có lời đáp riêng, sẽ đưa ra những phân tích cá
nhân.
Lời đáp
đó của mỗi cá nhân cũng lại sẽ có thể
thay đổi v́ ở mỗi chúng ta, qua các chặng
đời khác nhau, mỗi biến chuyển sống khác
lạ... lại mở ra những
kiến thức, kinh nghiệm giàu có hơn, dồi dào
hơn.
Dù kết
luận có giống nhau, nhưng nếu đến từ
những chủ đích khác nhau, sẽ hướng
đến những hành động khác nhau.
Sau nữa,
lời đáp chỉ là phần ngọn, cái gốc của
nó là các dữ kiện biện minh, cách cấu kết lư
luận mới là chủ yếu. Nếu chúng dựa trên
những dữ kiện sai lạc, không tề chỉnh,
thiếu thông quán, giá trị hướng tới là hành
động sẽ không có. V́ suy nghĩ để hành
động. Vậy suy nghĩ không thấu đáo hết
mọi lẽ, hành động sẽ nửa vời. Nếu nói không hết lẽ, làm sẽ
không đến nơi đến chốn.
Chúng ta nên
trả lời ra sao đây?
Các ư kiến,
giải đáp thường dùng những dữ kiện
từ lịch sử 1) để phân tích, hay dựa vào các
dẫn chứng từ sinh hoạt văn hoá, xă hội 2) để
suy diễn, phê phán. Nếu dữ kiện đưa ra không
chính xác, không hiển nhiên 3) ; các phê phán, nhận xét sẽ
sai lạc 4). Các dẫn chứng nên chính xác 5), các suy
diễn nên hợp lư 6), nếu không, tư tưởng
sẽ mơ hồ, khó hiểu 7).
Như thế, ư kiến khó được chấp
nhận.
Đằng
sau các phê phán cũng thường là những cách nh́n,
chỗ đứng. Khi chúng ta nói điều này tốt,
việc kia ích lợi, sự kiện này hơn hay kém sự
kiện kiaàTốt cho ai? ích lợi theo thước đo
nào? Hơn kém trên các giá
trị nào? Các giá trị đó có được
chấp nhận từ các phía
đối ngược không?
Nếu cách
nh́n không phổ thông, hướng nh́n thiếu hợp lư hay
chỗ đứng để lập luận không vững
chăi, và tất cả không thuần nhất. Sự phê phán thành thô thiển 8).
Lư luận thành không mạch lạc 9), hàm hồ, đi
đến ngụy biện (?
fallacies). Điều muốn trao đổi sẽ kém
sức thuyết phục.
Cuối cùng
nên có thái độ của người cầu học, thành
thật, không nên nói những ǵ ḿnh tưởng là biết,
hay chưa biết. Lư trí là chỗ dựa để quan sát
thận trọng, và đừng phê phán khi chưa hiểu rơ
ngọn ngành.
Kiến
thức ít, suy tưởng yếu là chuyện
thường, ai mà có cho đủ?
Nhưng không bắt buộc phải phán đoán trong
vội vàng, như thế chỉ đi sâu vào các ngơ ngách
của lầm lạc.
Có phải
nhiều tai họa và tội ác trên quê hương chúng ta
đă khởi đi từ các ngơ ngách của vô minh không?
Lê Quốc
Đạt
Toronto, 5/2001
---------------------------------
Chú Thích:
1-
"Khi Trung Hoa đă là Trung Hoa Dân Quốc -trí thức Trung
Hoa đă miệt mài ngồi dịch sách - lúc đó trí
thức Việt Nam vẫn c̣n chết ch́m trong cái mớ
"thi vân tử viết" của ḿnh và triều
Nguyễn c̣n trưng ra những nghi lễ nho giáo c̣n
khắt khe hơn triều đ́nh Bắc Kinh một
thuở"(Phạm Thị Hoài)
Có sự
lẫn lộn về thời gian ở đây:
- Triều
Nguyễn ở Việt Nam bắt đầu từ Gia Long
lên ngôi (1802) c̣n Trung Hoa Dân
Quốc hơn trăm năm sau mới thành lập (1912)
- Trung Hoa
dịch sách dân chủ Tây phương trước Trung Hoa
Dân Quốc rất lâu. Khang Hữu Vi (Kơang Yu-wei 1858-1927) và
Lương Khải Siêu (Liang Chi Chơao 1873-1929) làm cách mạng
"cải tổ Peking" (1897) ở cuối đời
Thanh, không đợi đến thời Dân quốc mới
dịch sách! V́ dịch sách trước đó nên mới có
Dân quốc, c̣n sau dân quốc có dịch (thêm! người
khác?) chắc bên Việt Nam, các trí thức đă đọc
Rousseau, Montesquieu bằng tiếngà Pháp rồi!
2-
"Khổng Tử "chỉ" có đánh xe".
Thật thế không? Hay chúng ta chỉ c̣n biết
được những chi tiết không toàn vẹn như
vậy? Gần hai ngh́n năm xưa, sách không nhiều,
lại chẳng c̣n bao nhiêu tồn tại đến nay.
Trong những ǵ c̣n giữ được, sự việc
ghi chép rất vắn tắt, nhằm chuyển ư hơn là
chép lời. Đọc sách xưa có chỗ khác với
đọc sách nay. Vin vào chi tiết nhỏ, có tính
tương trưng đó, để phán đoán cả
một sự nghiệp, dù có ư khôi hài, rồi đi
đến phê phán cả một tầng lớp xă hội, e
không khách quan, thiếu công bằng.
3- Phạm Quỳnh: trí thức
xuất thân hoàn toàn "độc lập?" (PTHoài) Không
phải ông làm báo bằng tiền của trùm mật thám Pháp
Marty đấy sao? Phạm Quỳnh ra làm thượng
thư để mà "hành cái đạo của ḿnh
(PTHoài)"? Tôi đọc sách chỉ nghe Phan Khôi gọi PQ là nhà học
phiệt, c̣n Ngô Đức Kế gọi các điều PQ
hô hào (về truyện Kiều chẳng hạn) là "tà
thuyết" chứ không phải "học
thuật", chưa biết PQ có "đạo" ǵ?
Lớn đến đâu để đem ra "hành"?
4- So sánh
Nguyễn Du và Nguyễn Tuân? Dù nhận ra Nguyễn Tuân
"ngông nghênh, thách thức" (PTHoài) nhưng hai người khác nhau như kim
cương và than đá! Một bên là Nguyễn Du. Một
bên là chỉ là một nghệ sĩ tài hoa, nhưng nếu
nói thêm Nguyễn Tuân lại phóng túng, khinh bạc, ít học,
truỵ lạc, chắc cũng có người đồng
ư. Nguyễn Tuân làm cán bộ văn hoá thừa hành, phục
vụ cho hệ thống tuyên truyền của chính
quyền đương thời, có lúc quỵ luỵ, có lúc
vênh váo. E tự Nguyễn Tuân cũng không dám sánh ḿnh với
Nguyễn Du. Hay so sánh v́ chung một chữ
"hoài"? Vậy
Nguyễn Tuân "hoài" cái
ǵ? "Trung"
với ai? Hơn nữa, Nguyễn Du "hoài Lê"
vẫn là một nghi vấn
văn học, một cách
giải thích, chưa rơ chi tiếtà (Hoài như thế nào?
Hoài ai? Lê hay Trịnh? Tại sao?)
Nguyễn Tuân là nhà trí thức?
5- "Cuộc chiến văn hoá
- VN sẽ là địa bàn xung đột để
chiến tranh thế giới lần thứ ba giữa
Mỹ và Trung Quốc (PTHoài) ". Trong Samuel P. Huntington, The
clash of civilizations and the remaking of world order, Simon & Shuster,
New York, 1996 - tạm dịch là "Sự xung đột
giữa các nền văn minh và sự xếp đặt
lại trật tự thế giới", tác giả cho
rằng sau cuộc Chiến tranh Lạnh (cộng sản
Nga, tư bản Mỹ), thế giới sẽ phân chia
lại theo các khu vực văn minh (Tàu-Hán, Hồi giáo,
Nhật, Chính thống giáo, ấn giáo, Âu Mỹ) có thể
tranh chấp với nhau, trước khi đi đến
việc chấp nhận lẫn nhau và một nền văn
minh chung. Tác giả xếp Việt Nam cũng như Korea vào khối Hán (Sinic) nhưng không có chỗ nào nói
đến "chiến tranh thế giới lần thứ
ba", Việt Nam là một điểm nóng cũng như
Cashmir hay Trung Đông, nhưng cũng không có chỗ nào tác
giả nói đến " địa bàn xung
đột"!
6- "Học
cái chữ của ḿnh bằng cách hai lần đi qua
chữ của kẻ thù" Có phải v́ chữ Trời
viết bằng "thiên" và "thượng" nên
thành hai lần không? Nhưng khi học chữ
"trời" không tiên quyết phải biết các
chữ kia, cứ học thẳng ngay vào chữ đó
cũng được, phân tích đến sau. "Phải
biết cách ghép.." Không, học tṛ không cần phải
biết cách ghép, chữ đă có sẵn, không phải mỗi
lần ai học lại phải ngồi ghép! Nếu
đếm cửa (chữ Hán), chỉ có một, không
hai! Ngay cả học chữ
Hán cũng vậy, mỗi chữ thường ghép từ
hai, có khi ba chữ khác có sẵn... Có v́ vậy mà gọi là
qua hai, ba cửa đâu?
7- Khách quan, chủ quan! Hỏi
"việc v́ ai? do ai?" mà nước ta đáng buồn
như vậy, Có hai câu trả lờià. Một là do khách
quan" (lịch sử, thiên nhiên)" hai là do chủ
quan" (dân tộc, con người, văn hoá Việt). Có
lẽ tác giả muốn nói ở ng̣ai và ở trong
đối với con người. Ngoài là khách mà trong là
chủ! Có lẽ hiểu như thế không sâu sắc
lắm với khoa suy luận logic. Hơn nữa, lịch
sử có thể là khách quan, ngoài con người
được không? Thiên nhiên, ngoại cảnh
được ghi chép và thu nhận qua lăng kính con
người và là môi trường sống, có thể coi là
sự nối dài của con người. Vậy có là khách
quan? Đâu là trong? ngoài? Vậy
lời đáp chỉ có một: con người Việt,
với xă hội, văn hoá, lịch sử và thiên nhiên
của nó. Không có hai, không có trong, ngoài, chủ, khách! Khái
niệm logic hiểu quá đơn giản. Khách quan
(objective) và chủ quan (subjective) là thuộc tính (attribute) cho
một nhận xét, một quan sát, một lời đáp, là
màu sắc cho một cái khác, nó không là tự nó. Lư luận
trên những ư niệm mơ hồ.
8- Chữ Nôm,
so với chữ Nhật "nó không thành công" (PTHoài).
Thế nào là chữ viết "thành công"? Tôi nghĩ tác
giả muốn nói chữ Nôm v́ khó học nên không phổ
thông, không được dùng? Chữ Nhật giản
dị hơn nên được dùng rông răi, nên "thành
công"?
Trước
hết, muốn giỏi chữ Nhật, cũng phải
biết nhiều chữ Hán (kun) v́ chữ nhật Kanji dùng chữ
Hán. Tiếng Nhật đa âm (polysyllabic), lại dùng
tiếng đơn âm (Hán) để ghi, họ lúng túng vô
cùng! Cho nên ngoài kanji, họ phải tạo ra chữ kana
(gồm hiranaga và katanaka ) Ngày nay khi viết, phải dùng
cả ba hệ thống: kanji và hiranaga (viết) lẫn
katanaka (in). Thực ra, họ cũng không hoàn toàn vui vẻ
với chữ viết của họ đâu, có vận
động bỏ lối viết theo chữ Tàu, chuyển
sang lối viết khác dùng mẫu tự ghi âm, nhưng thói
quen đă cản trở họ.
"Người
Nhật đă tự động băng qua biển
đến THoaà khuân một ít văn hoá Trung Hoa, trong đó
có chữ viết về nhà." (PTHoài). Các sách Nhật
viết về họ ghi rằng vào khoảng 400 AD, các
học giả Korea đem sách Tàu sang Nhật! Và từ
đó người Nhật mới bắt đầu chính
thức học chữ Hán! Họ học giỏi, tạo ra
nhiều chữ mới, thí dụ "khoa học (kagaku)"
hay "xă hội (shakai)" là tiếng Nhật! Truyền sang Korea, rồi sang Tàu,
rồi về Việt Nam!
Tác giả như
chắc chắn chữ Nôm là công tŕnh của giới trí
thức, nên dựa vào đó để phê phán. Nhưng
điều này cũng không rơ ràng, c̣n là nghi vấn. Chúng ta chỉ
rơ có một điều là các nho sĩ dùng chữ Nôm,
nhưng các công tŕnh tạo lập (tạo ra chữ, sao
chép, khắc in...) không hẳn là trong giới trí thức.
Nếu có cũng chưa rơ
phần nào? Bao nhiêu? Lúc nào?
Chúng ta có thể so
sánh chữ Nôm với chữ Nhật được không?
Một bên là công tŕnh chết yểu, không toàn vẹn, c̣n
dở dang (chỉ dùng trong sáng tác văn chương, không
trong học thuật, khoa cử, triều đ́nh, ngoài
Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp ngắn ngủi),
một bên là công tŕnh sống, phát triển cho đến
ngày nay.
Chữ viết chỉ
là dụng cụ để ghi lại tiếng nói, tư
tưởng. Trong khoa ngữ học, không có khái niệm
chữ viết "thành công". Tạo ra chữ viết riêng cho ḿnh, thường là do các
yếu tố lịch sử và địa lư, và không là
mức đo trí tuệ sáng tạo. Các nước AÁu châu
hiện dùng chữ cái Latin, cũng không hề tạo ra
chữ viết của ḿnh. Họ vay mượn từ các
nước Cận đông (qua Greek, rồi Etruscan). Chữ
viết truyền đi theo gót chân các đoàn lính viễn
chinh, hay truyền giáo.
Nước Korea, có chữ viết riêng với mẫu
tự Hangul của ḿnh, là do nhu cầu (dùng chữ Hán không
xong) và vị trí địa lư của họ, ở một
góc của A' châu, có Măn Châu cách
nước Tàuà Chắc không ai có thể nói là họ thông
minh, sáng tạo
"hơn" Nhật, hay Việt. Thái Lan
mượn chữ viết của dân tộc bị họ
đánh bại nhiều lần là Khmer .
Có chữ viết
là dấu hiệu của phát triển tinh thần, đánh
dấu sự tiến bộ về văn hoá. Con người đă có suy
tưởng và kết hợp thành tổ chức xă hội
đông dảo, trở nên có nhu cầu ghi chép và truyền
thông. Chữ viết đánh dấu cái mốc quan trọng
ấy. Chữ viết Việt, từ chữ cổ như
người Mường (trước Bắc thuộc),
đến chữ Hán (sau Bắc thuộc), rồi chữ
quốc ngữ (cận đại), ba hệ thống khác
biệt, do hoàn cảnh lịch sử mà ra đời,
mất đi, hay tồn tại, nhưng ở thời nào,
chúng ta cũng có chữ viết. Sau nữa, nội dung nó
chuyên chở mới là quan trọng hơn.
Chuyện chúng ta
dùng chữ quốc ngữ hoàn toàn là do hoàn cảnh lịch
sử, ngoài ư muốn của nhiều thế hệ
trước. Các nhà truyền giáo AÁu châu đă dùng chữ viết
và theo vần của họ để ghi âm tiếng
Việt trong việc giao tiếp và giảng đạo cho
người bản xứ.
Họ không hề có ư định tạo ra chữ
viết cho chúng ta! (Và cũng
chưa tạo đến mức hoàn thiện!) Cũng
như nhiều người Việt sang đến
nước ngoài, đi học tiếng Anh, ghi âm tiếng
Anh bằng chữ à Việt!
Các nhà truyền giáo
ở Việt cũng thường là các nhà truyền giáo
ở Macao, Thiên Tânà chạy về,
và cũng có trong ḍng Jesuit.
Nếu giỏi th́ chắc là các nhà truyền
đạo bên Tàu giỏi hơn, như Matteo Ricci nghiên
cứu tinh thâm Nho giáo, vào kinh đô Nanking, rồi Peking
đối thoại với các trí thức, danh sĩ, nho gia
Tàu. Theo Phạm Thị Hoài, các nhà truyền giáo bên ta (so
với bên Tàu) "có ḷng khoan thứ"(?) Khoan thứ
chắc không phải là kính trọng (Nếu có ḷng kính
trọng các tôn giáo khác th́ chắc là không đi truyền
giáo!) Hay khoan dung và rộng lượng? Họ đứng
ở đâu mà có thể có thái độ như vậy?
Đă "khoan (dung)" lại "rộng răi
(thứ)" Tại Tàu (Wade-Giles romanization) và Nhật,
họ cũng ghi âm tiếng địa phương theo
Latin, v́ Tàu và Nhật không mất nước như chúng ta,
nên chữ đó không có cơ hội được dùng.
Chữ quốc ngữ dễ học, dễ
viết (cho người b́nh dân nghèo là đốí
tượng của Thiên chúa giáo lúc mới sang nước
ta) tiện cho việc dịch chép kinh thánh, lời cầu
nguyện, nên sớm phổ thông trong nhà thờ từ
thời phân tranh đàng Trong, đàng Ngoài. Nhưng phải
đến thời thuộc Pháp, v́ nhu cầu cai trị
(thúc đẩy dân chúng đọc thông cáo, yết thị và
báo chí tuyên truyền của nhà nước thực dân - Gia
Định Báo, Đông Dương, Nam Phong) và tham vọng
về chính trị, văn hoá: cắt đứt chúng ta
với truyền thống văn hoá dân tộc (chữ
đó, lúc ấy chưa chuyên chở t́nh tự yêu
nước, không mang quá khứ dân tộc) lại dễ in,
tiện phổ biếnà nên đựơc chính quyền
thực dân đẩy vào giáo dục, cho thành phổ thông. Chỉ
bắt đầu sang thế kỷ XX, từ Đông Kinh
Nghĩa Thục, các nhà ái quốc Việt mới chính
thức chấp nhận và hô hào việc học chữ
quốc ngữ, bỏ chữ Hán, v́ xem đó là lợi khí
duy tân.
Chữ quốc ngữ cũng c̣n nhiều
điểm chưa toàn mỹ, nhiều chỗ có thể làm
cho tốt đẹp hơn được. Trẻ nhỏ
học đọc, đánh vần nhanh, nhưng
"biết chữ mà chưa biết nghĩa".
Đọc chữ
"trời" mà chưa hẳn đă hiểu
nghĩa, c̣n trong chữ Nôm, khi học được
chữ "trời"
cũng sẽ hiểu là ǵ!, hay "năm" nếu
trong chữ Nôm, biết là số năm hay năm tháng (v́
viết khác nhau)à Chúng ta vẫn dùng các chữ Hán Việt
(orthographic structure-pictoral) nhưng ghi âm Latin (linguistic structure-text).
Lại dùng các dấu ghi âm (diacritic) theo Spanish và
Portuguese, nên viết khó
đọc, khó in, đánh vào máy... lại chưa thống
nhất, hợp lư(i & y...)
9- Xem đoạn khai triển về "lư do
chủ quan":
Theo dơi lư luận, khởi
đi:
Chúng
ta đội sổ, thua kém thiên hạ (a)
Chúng ta không tự tin (b)
(V́) Chúng ta đội sổ, thua kém thiên
hạ NÊN chúng ta không tự tin (c)
(a), (b) là nhận xét chủ
quan, có thể chấp nhân, đồng ư, hay không
đồng ư.
Trong kết luận (c), là suy diễn,
đặt ra liên lạc (NÊN) giữa (a) và (b) không có cơ sở vững
chắc v́ giữa nghèo, lạc hậu và tự tin không có
quan hệ tất yếu (có thể thua kém thiên hạ v́
nghèo, lạc hậu, nhưng vẫn có thể tự tin...)
Lư luận như vậy cũng giống
như:
Tôi
ăn bánh
Tôi
đọc báo
(v́)
Tôi ăn bánh nên tôi đọc báo (!)
Sau đó:
Chúng
ta không tự phê b́nh (d)
Chúng
ta (đội sổ, thua kém thiên hạ) không tự tin (c)
"Rơ
ràng" là tự phê b́nh đ̣i hỏi một ḷng tự tin
lớn (e)
(d) là nhận xét
tuy chủ quan, có thể chấp nhân, đồng ư ít
nhiều
(c) chúng ta đội sổ, thua kém thiên
hạ (NÊN) chúng ta không tự tin - câu này đă yếu từ
trên.
Trong kết luận (e), liên hệ giữa
tự tin và phê b́nh không được thiết lập
vững chăi, v́ cũng không có quan hệ tất yếu. Nên
không rơ ràng dù tác giả có nói "rơ ràng"!
Đi thêm một bước nữa,
nhận xét về dân tộc Đức và phê b́nh thành
thừa thăi, nhạt nhẽo.
Tương tự:
Tôi
đi chơi
Tôi
(ăn bánh nên tôi) đọc báo
Rơ
ràng là đi chơi đ̣i hỏi phải (ăn bánh)
đọc báo nhiều (!)
Ông
Đức đi chơi, nhất định là ông ấy
đă (ăn nhiều bánh và) đọc báo nhiều lắm!
Các lư luận mỗi bước càng yếu
đi. Sự thuyết phục cũng càng giảm đi.
Lại thêm thí dụ, như đoạn
cuối:
Trí thức VN
mặc cảmà
V́ sao? - v́ "thấy ḿnh bé nhỏ
trước các thành tựu văn hoá khác"
Dĩ nhiên đây là một nhận xét riêng
của một người, là tác giả, nên chỉ mới
có tác động mời gọi sự chấp nhận,
chưa có tác động thuyết phục. Nên phải thêm
kinh nghiệm riêng lẻ của ḿnh: "Tôi thực sự
chưa được chứng kiến một trí thức
hay một văn sĩ Việt Nam nào có một ḷng tự
tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước
ngoài." (PTHoài)
Giống như, có ai nói:
Chó
không cắn chết người được đâu.
Không
tin à? Tôi "thực sự" chưa thấy chó cắn
chết ai bao giờ cả.
Người nói
chắc rất tự tin, nhưng chưa hẳn có
người nghe theo. Ai tin như thế, có ngày chết v́
chó dại cắn!
________Toronto,
5/2001_______
"Nhà
văn nói về chính trị: Vấn đề trí thức
Việt Nam
-
Nhân bài
tọa đàm của nhà văn Phạm Thị Hoài"
München, ngày 24-4-2001
Cùng Quư văn hữu,
Giao t́nh giữa Văn chương và Thời
thế là chuyện không hề mới, và cũng không bao
giờ cũ. Về phía nhà văn, nói chung có ba quan niệm:
Động tới cái này phải chạm vào cái kia; Bỏ th́
thương vương th́ tội; Kính nhi viễn chi.
Hôm nay, chúng tôi kính mời Quư văn hữu -
những nhà văn, nhà thơ, phê b́nh gia, văn nghệ
sỹ - đến với báo Cánh Én, để thảo
luận chủ đề Trí thức Việt Nam nhân bài nói
chuyện "Tư cách chính thống của trí thức
Việt Nam" của nhà văn Phạm Thị Hoài trong
cuộc tọa đàm tại Berlin, tháng 10-2000 (Phần
đầu bài này vừa được đăng trên báo
Cánh Én số 111, 03-2001; Phần sau trong số báo tiếp).
"Quốc gia hưng vong, Sĩ phu hữu
trách"... Nhiều năm gần đây, ở trong
nước cũng như hải ngoại, từ mọi
phía, những quan tâm thường dồn đến câu
hỏi cuối cùng: Vậy lối ra cho vấn nạn
đất nước là đâu? Trí thức Việt Nam
đang là đề tài chung để các diễn đàn
thể hiện những quan điểm khác biệt ở
câu hỏi này.
Đúng ra trong việc nhận định về
vấn đề trí thức th́ tiếng nói độc
lập của các nhà xă hội học, chính trị học,
triết gia, sử gia, văn nghệ sĩ, các chiến
sĩ tranh đấu... phải là nặng kư. Song, ở
một đất nước như Việt Nam, nơi mà
các yếu tố không lành mạnh của chính trị và các
nền độc tài, trong đó đáng kể nhất là
Đảng Cộng sản Việt Nam, khống chế dư
luận một cách ư thức hay vô thức th́ những ǵ
liên quan đến trí thức Việt Nam trở nên vô cùng
phức tạp và bị lọt vào bàn tay biến báo của
các chính trị gia, của các thế lực và mưu
đồ chính trị không lành mạnh đó.
Cũng với giọng văn khúc triết ẩn
hiện sự biếm hài, nhà văn Phạm Thị Hoài,
dường như là lần đầu tiên bằng ngôn
ngữ chính luận thông thường, đă trực
tiếp tŕnh bày một số quan niệm về trí thức
Việt Nam vốn từng là đề tài chính ở các tác
phẩm văn chương ẩn dụ của chị.
Chúng tôi có quan niệm của ḿnh về mối
liên hệ giữa Chính trị (dù là chính trị quyền
lực hay chính trị thời cuộc) với Văn
học-Nghệ thuật. Và, quan niệm đó không hề
cản trở việc đăng tải bài vở của
các văn nghệ sĩ có các quan niệm khác. Việc
tổ chức diễn đàn riêng này cho các văn nghệ
sĩ hội thảo về một vấn đề
hệ trọng của đất nước đă là
cố gắng đặc biệt của báo Cánh Én trong
hơn 11 hoạt động v́ một nền báo chí
Việt tự do ngôn luận thật sự, v́ một
nước Việt Nam dân chủ thực sự. Trong ư
nghĩa đó, chúng tôi tin rằng các thảo luận khi mà
đă góp nên các trang báo Cánh Én th́ cũng dự phần làm ra
các trang văn của Quư văn hữu.
Về h́nh thức thảo luận: chúng ta có
thể dùng cả hai lối "truyền thống" và
"hiện đại": Các bài viết, các ư kiến
riêng của từng tác giả gửi đăng báo như
thường lệ; Các trao đổi trên một Mailing-List
giữa một số tác giả và theo đó Ban biên tập
sẽ biên soạn để đăng báo.
Chân thành tri ân quan tâm của Quư văn hữu và xin
khai mở cuộc thảo luận "Nhà văn nói về
chính trị: Về vấn đề trí thức Việt
Nam... " với bài dưới đây của nhà văn Phạm
Thị Hoài.
Thân kính
Ban biên tập Cánh Én
* * *
Phạm Thị Hoài
Kỳ 1
(Đăng báo
Cánh Én số 111, tháng 03-2001)
Lời Ṭa soạn Cánh Én:
Bài viết dưới đây của nhà văn
Phạm Thị Hoài - diễn giả chính trong cuộc
toạ đàm tại Berlin vào tháng 10-2000. Do ghi lại
từ băng ghi âm nên có thể có thiếu sót, rất mong tác
giả và độc giả lượng thứ.
Được sự đồng ư của nhà văn Phạm
Thị Hoài, Cánh Én xin trân trọng giới thiệu
đến bạn đọc của ḿnh.
Thưa các bác, các anh, các chị:
Vấn đề tôi muốn đặt ra ở
đây rất đơn giản và tôi xin những vị có
ư chờ đợi ở một nhà văn những tư
tưởng rất cao siêu, phức tạp thể tất
cho.
Tất nhiên là tất cả các vấn đề
của hiện thực Việt Nam đều rất
phức tạp. Nhưng tôi nghĩ rằng: Cái cách mà dễ
dàng nhất, cái cách mà láu lỉnh nhất để khỏi
phải đối mặt với cái hiện thực này
chính là làm cho nó phức tạp hơn bản thân nó. Mà
văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam có một
căn bệnh trầm kha là: khi sự vật dường
như không thể giải quyết nổi theo các tiêu chí
của nho giáo, hiệp sĩ hay chiến sĩ th́ nó lập
tức được nh́n theo nhăn quang của phương
sĩ, hay đạo sĩ và đấy là một thứ
nhăn quang tất nhiên là rất vô cùng thú vị và vô cùng
phức tạp. Thú vị và phức tạp tới cái
mức nó cho phép người ta có thể mải mê trong chính
nó, và bản thân cái hiện thực chỉ là cái cớ
rất là phụ. Nhưng chúng ta sẽ trở lại cái
hiện thực này ở một đoạn sau và bây
giờ tôi chỉ xin nói trước là: trong buổi tối
hôm nay chúng ta sẽ cố gắng giản dị và sáng
tỏ trong suy nghĩ của ḿnh.
Xuất phát điểm của vấn đề
mà tôi muốn đặt ra cũng rất là giản dị,
trước sau ít nhất là 2000 năm, có một dân tộc
Việt, một văn hoá Việt, một quốc gia
Việt và sau ít nhất là 200 năm có một lănh thổ
Việt như ngày nay, th́ nước ta vẫn là một
nước nghèo và lạc hậu vào hạng nhất
thế giới. Nhưng vấn đề không phải
chỉ là ở chỗ nghèo và lạc hậu, nếu
chỉ có như vậy th́ tôi c̣n chưa thấy có ǵ là
đáng sợ lắm. Cái vấn đề, một là ở
chỗ là chưa bao giờ chúng ta như thế. Từ khi
tôi sinh ra đă là như vậy. Từ khi cha mẹ, ông bà
tôi sinh ra đă là như vậy. Từ khi các cụ tôi sinh
ra cũng là như vậy. Khi các kỵ tôi sinh ra th́ thế
giớI lúc đó chỉ là Trung Hoa và Ấn Độ thôi,
nhưng bảng xếp th́ vẫn thế không có ǵ thay
đổi cả. Nước Hy Lạp chẳng hạn là
một nước hiện nay đang nghèo nhất cộng
đồng Châu Âu, nhưng không phải bao giờ cũng
thế. Nước Nga cũng đang vô cùng bê bối,
nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chỉ có
nước Việt là chưa bao giờ như thế mà
thôi. Tôi thậm chí không dám nghĩ tiếp rằng là khi cháu
tôi hoặc chắt tôi sinh ra th́ chúng ta vẫn không thoát
được cái kiếp đội sổ như vậy.
Sở dĩ tôi phải nói hơi dài về vấn đề
này v́ nó là một yếu tố quan trọng trong việc
h́nh thành tính cách rồi tư cách của người
Việt nói chung và người trí thức Việt nói riêng.
Ta hăy h́nh dung, nếumột anh học tṛ đi học trong
cả suốt cuộc đời của ḿnh không bao
giờ không đứng cuối lớp, nó là một cái
dớt không thay đổi, th́ đến một lúc nào
đó ư chí phấn đấu của anh ta (nếu như
anh ta có một ư chí) cũng phải tiêu tan. Thứ hai
nữa, là nếu mà câu chuyện chỉ dừng lại
ở một nước nghèo và lạc hậu mà thôi, th́ tôi
cho rằng tất nhiên vẫn là một câu chuỵện
buồn nhưng chưa đến nỗi bi đát và vô
vọng bởi v́ chỗ này, tôi cũng xin nói thẳng là
chúng ta đang sống ở một nước không nghèo và
không lạc hậu tí nào là nước Đức. Chúng ta có
thể nói rằng sự giàu có và văn minh tiến bộ
cũng đẻ ra nỗi sầu rất đặc
trưng của nó, chứ không phải chỉ có riêng nghèo và
những điều bi đát lạc hậu. mà chúng ta
vẫn thấy là thưồng xuyên có những công dân
của cái thế giới văn minh và giầu có này t́m cách
giải toả những nỗi sầu của ḿnh bằng
cách giải toả tất cả những cái bi kịch của
sự thừa thăi của vật chất cũng như là
sự tiến bộ với một cái tốc độ
rất là nhanh chóng của cái xă hội hiện đại
của họ bằng cách là t́m về những cái xă hội
c̣n mông muội, c̣n văn khai c̣n nghèo khó và coi đó là những
câu trả lời nhất định, là một cái thứ
(?...) tất nhiên là chúng ta có thể mỉm cười và có
thể coi đó là một cái thứ lăng mạn, một cái
căn bệnh quí phái, nhưng mà chúng ta không thể bác
bỏ nó đựơc, chỉ có điều là hiện
thực Việt Nam thậm chí không phải là cái chỗ
thích hợp để cái thế giới thứ nhất
đó chữa chạy những cái căn bệnh quí phái
của ḿnh bởi v́ ngoài cái nghèo và lạc hậu, th́
đến đầu thế kỷ 21 này xă hội Việt
Nam c̣n là chỗ hội tụ của những dịch
bệnh nhường như vô phương cứu chữa
khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm. Đối
với tôi, tôi đặt tên khái niệm đó là sự
bất an. Với tôi một nhà văn th́ đương
nhiên sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối
quan tâm chính. Theo cách nh́n của tôi, th́ sức mạnh
của một xă hội là khả năng đem lại cho
các thành viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất
định, người ta có thể nghèo nhưng nếu mà
người ta có được một cảm giác an tâm
nhất định, điều đó quan trọng hơn.
Nếu không có cảm giác ấy th́ người ta chỉ có
dớt miễn
cưỡng sống tạm cuộc đời của ḿnh
và đương nhiên không có một động cơ nào
đủ mạnh để sống tiếp cuộc
đời của những thế hệ trước,
sống trước cuộc đời của những
thế hệ sau và sống chung cuộc đời của
những kẻ cùng thời. Nói như thế th́ xă hội
Việt Nam là một tập hợp tạm bợ, rời
rạc và hoàn toàn không hữu cơ. Có những cá nhân hoang
mang và bất ổn. Về xuất phát điểm là
như vậy, vấn đề đặt ra là trong cái
số phận dường như là vĩnh viễn hẩm
hưu đó của ta (?..) th́ người trí thức tham
dự như thế nào? Nói
một cách khoa trương và có lẽ là tương
đối sáo th́ người trí thức Việt Nam
chịu trách nhiệm ǵ về cái số phận chung ấy
của cả một dân tộc. Cho đến nay, chúng ta
đă nghe, có thể là đă nghe đến thuộc ḷng
rồi, những lời đáp vô cùng rơ ràng về cái
việc này 'Việc v́ ai? do ai ?' mà nước ta đáng
buồn như vậy. Có hai câu trả lời rơ như ban
ngày: Một là do khách quan, hai là do chủ quan.
Thằng kháThằng khách tôi phải xin lỗi là phải dùng tờ như
vậy. Bởi v́ trong tiếng Việt th́ kẻ có tội
rất to như thế phải bị gọi là thằng.
Thằng khách quan nó có vô số cái hoá thân và điều
kiện gọi tên rất rành mạch, lúc th́ đó là
thằng lịch sử, lúc th́ đó là thằng bối
cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng t́nh h́nh chung, lúc th́
đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù
địch, thằng đế quốc, thằng thiên tai
địch hoạ. Nếu mà nghe như vậy th́
người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan
đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta
cả. Như vậy th́ chả có lư do ǵ hy vọng và
chả có một cuộc toạ đàm nào cần thiết
nữa cả. Và nếu có ai mà tin vào những lời tiên
đoán của ông giáo sư Thover và ông giáo sư Haustinton,
trong cuốn sách cách đây mấy năm rầm rộ là
cuốn Cuộc Chiến Văn Hóa rằng Việt Nam
sẽ là địa bàn xung đột để Chiến
tranh Thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung
Quốc sẽ xẩy ra th́ quả nhiên là chúng ta đáng
tuyệt vọng hoàn toàn.
Về chủ quan, người Việt Nam không có
truyền thống đem cả một dân tộc ra mà
tự phê b́nh. Một trong những lư do v́ sao lại làm
như vậy? Cũng là ở chỗ khi người ta khi
người ta đă suốt cả một số phận
luôn luôn là đội sổ rồi th́ ḷng tự tin
chẳng c̣n ǵ là lớn lắm. Đấy là tôi muốn nói
đến một ḷng tự tin thực sự, chứ không
phải là cái thứ tin theo kiểu (vừa đánh vơ
mồm vừa run trong ḷng), hoặc là thứ tự tin lưu
manh, cứ kích nhau lên để nhằm vụ lợi cho
ḿnh. Rơ ràng là tự phê b́nh đ̣i hỏi một cái ḷng
tự tin lớn. Tôi cứ nh́n cái cách tự tra vấn ḿnh,
tự hành hạ, tự truy tội, tự xỉ vả
ḿnh của một dân tộc như dân tộc Đức này mà
phải nhận ra rằng: Đó là một dân tộc đă
đạt được nhiều thành tựu đến
mức nào mới làm cái việc cũng rất ư là quư
phái là tự phê b́nh ḿnh như vậy. Như vậy th́ dân tộc
Việt trọn gói th́ không có lỗi ǵ đáng kể,
nhưng một bộ phận, một bộ phận
đầu sỏ của nó th́ bao giờ cũng luôn luôn là
đầu mối của mọi tai họa, bộ phận
đó như chúng ta được thường xuyên nghe
nói, bao giờ cũng là chính quyền, là lực
lượng thống trị. Lúc th́ là 'chính quyền Bắc
thuộc', lúc th́ là 'vua quan nhà Nguyễn chịu trách
nhiệm', lúc th́ 'chính quyền thực dân Pháp chịu trách
nhiệm', lúc th́ là 'bè lũ lính Ngụy' và bây giờ không có
chính quyền nào khác hơn là chính quyền Cộng sản,
th́ chính quyền Cộng sản chịu trách nhiệm.
Bảo đúng th́ tất nhiên là đúng. Nhưng như
vậy có kỳ cục lắm hay không, chẳng lẽ
nạn đói triền miên năm 1945 xẩy ra là do phong
kiến thực dân, c̣n bây giờ nạn đói xẩy ra là
do Cộng sản hay sao, chẳng lẽ cái thói chạy
chọt, vây cánh, cửâ quan, cửa quyền, bợ đỡ...
rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất
Tố cũng tại Cộng sản hay sao? Chẳng lẽ
văn chương Việt Nam cả một thế kỷ
15 chỉ được một ông Nguyễn Trăi, cả
một thế kỷ 16 hầu như toàn là nhạt
nhẽo và trung b́nh cả th́ cũng tại Cộng sản
hay sao? Một trong những nhà phê b́nh văn học sắc
xảo nhất của Việt Nam ở hải ngoại,
anh Nguyễn Hưng Quốc, hiện là giảng viên của
trường Đại học Victoria tại Úc, cách đây 10
năm có viết một cuốn sách nhan đề là Văn
Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng
Sản. Trong đó anh đi t́m câu giải thích cho t́nh
trạng kém cỏi tẻ nhạt của văn học
miền Bắc. Trong những vấn đề của
chế độ Xă hội chủ nghĩa và hệ
thống lư luận Mác-xít. Điều đó tất nhiên là có
nhiều phần đúng, nhưng chưa đủ,
những năm sau này anh Nguyễn Hưng Quốc đi
đến một nhận xét hết sức khổ tâm là
văn học Việt Nam ở Hải ngoại tồn
tại ở các chế độ dân chủ, tự do hoàn
toàn không hề dính líu ǵ đến hệ lư luận Mác-xít,
hệ kiểm duyệt Cộng sản, hoàn toàn không có liên
quan ǵ đến bộ máy tuyên truyền chính trị chính
thống, nhưng cái văn học ấy không khá ǵ hơn
tŕ trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt.
Tất nhiên là tẻ nhạt theo một kiểu khác.
Vậy lời đáp nằm ở đâu?
Việc phê phán cái xă hội nghèo đói, loạn
tặc, nhiễu nhương, tạm bợ, không có
phương hướng ở Việt Nam, tất nhiên
gắn tới việc phê b́nh chính quyền lănh đạo.
Thế vậy cái xă hội của người Việt
ở ngoài nước, tại cộng đồng Hải
ngoại không có mặt sự lănh đạo của chính
quyền Cộng sản mà cũng đủ những
phẩm tính tương tự th́ chúng ta biết phê phán trên
cơ sở nào? Rơ ràng có những vấn đề thuộc
về văn hoá Việt Nam, những vấn đề
nghiêm trọng không thể qui vào một chính thể, tập
đoàn hay đảng phái thống trị nào, nó là những
hằng số xuyên suốt cả số phận dân tộc
Việt Nam, bắt đầu thậm trí từ Lạc Long
Quân, nếu như có ông ấy và bà Âu Cơ và nếu đă
mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét th́ có
thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đă gặp
một thành phần không thể không gặp, đó là trí
thức Việt Nam. Bản thân tôi không dám làm cái việc là:
điều tra số phận dân tộc, đi t́m
'tướng' cái phần dính líu của cá nhân. Người
Việt trí thức hay không trí thức th́ cũng thế
thôi. Nói chung nhiệm vụ nhà văn của tôi là không
phải đổ trách nhiệm cho ai cả. Vả lại,
trong bất kỳ t́nh huống th́ việc trả lời ai
có tội, ai có lỗi là không thể giải đáp trọn
vẹn được. nhưng mà việc tất yếu mà
một nhà văn phải làm ở thời nào cũng
thế là khám phá và nếu có thể là khám phá những khía
cạnh mà anh ta cho rằng c̣n mờ khuất của con
người và cuộc đời. Nhưng không một nhà
văn nào khi làm việc đó mà có thể ôm đồm
cả thế gian mà quan sát và khám phá được. Bản
thân tôi là do gia đ́nh và môi trường sáng tạo, môi
trường sống môi trường sáng tác, môi
trường làm việc nên không thể nào làm một
việc ǵ khác hơn là quan sát và khám phá giới trí
thức.Tôi không có thẩm quyền ǵ để có thể
phát biểu, chẳng hạn về tư cách của
người nông dân hay thợ thuyền Việt Nam cả.
Tôi không có một hiểu biết ǵ đáng kể về
những điều đó. Song giới trí thức Việt
Nam là chủ đề của hầu hết các sáng tác
của tôi. V́ vậy mà có một buổi nói chuyện
như thế này. Tôi không nghĩ rằng ḿnh có thể
vạch ra được một đường
hướng nào. Việc chung nhất mà tôi có thể thử
làm là khắc hoạ diện mạo của giới trí
thức Việt Nam. Bản thân cái việc này là một
đề tài mà một cá nhân không thể nào kham nổi. Hôm
nay tôi thử tŕnh bày về hai tư cách, mà theo tôi là đáng
để ư, đó là: Tư cách chính thống và Tư cách
học tṛ:
Bây giờ phải xin nói trước để
chúng ta có thể dễ đồng ư với nhau về khái
niệm là một định nghĩa hoàn hảo về trí
thức rơ ràng là không thể có được, ngay cả
với những hoàn cảnh c̣n tương đối
dễ bao quát như hoàn cảnh Việt Nam. Chúng ta tạm
quy ước với nhau là khi nói tới giới trí
thức Việt Nam ở đây là nói tới những
người mà do học thức tŕnh độ, môi
trường sống, thói quen hoặc thậm chí do ngẫu
nhiên cũng được, mà hoạt động trí tuệ
và tinh thần là thường trực, chủ yếu
hoặc đóng vai tṛ đáng kể.
Bây giờ tôi xin nói về tư cách Chính thống
của trí thức Việt Nam.
Một người bạn vong niên của tôi
ở Hà Nội, ông Nguyễn Kiến Giang, gần đây có
đưa ra một khái niệm là Tính cách pḥ chính
thống của trí thức Việt Nam. Tôi th́ gọi
đó là tư cách quan văn, theo cái mô h́nh trị
nước là một ông vua có thể u mê, có thể anh minh
hai bên tả hữu là quan văn và quan vơ. Tôi gọi tư
cách chính thống của trí thức Việt Nam này là Tư
cách quan văn . Chúng ta hăy xem lại lịch sử, nếu
như bỏ qua cái thời kỳ mông muội khi
người săn bắt giỏi nhất, bắt cá khéo
nhất, thắng nhiều cuộc vật nhất và có
thể có nhiều con nhất bởi v́ được
nhiều đàn bà ái mộ nhất; một người
như thế được đứng đầu
cộng đồng Việt. Nếu chúng ta bỏ qua
thời kỳ đó th́ chúng ta có ngay mười mấy
thế kỷ toàn trị của giới có học. Khi
đó là giới sĩ, một thời gian dài là giới tu
sĩ, sau đó tuyệt đối là giới nho sĩ.
Chế độ khoa cử với một cái chức
năng là chế độ đào tạo và tuyển
chọn cán bộ nhân viên nhà nước, đă tự
động ghép học thức, tri thức và quyền
lực thành một cặp bài trùng. Tri thức vừa là con
đường dẫn đến quyền lực và
vừa là cách thực hiện quyền lực. Không có ǵ
để nghi ngờ nữa là giới sĩ phu Việt Nam
trong lịch sử là giới cầm quyền, hay ít
nhất cũng là giới thừa hành quyền lực. Nói
theo từ hiện đại là toàn bộ guồng máy nhà
nước Việt Nam trong lịch sử nằm trong tay các
tri thức nho giáo. Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái
tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên
được ca ngợi rằng Người Việt Nam
hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ yêu thầy.
Theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất
phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền
lực. Nếu mà chữ nghĩa mà không mở ra
được một triển vọng thơm tho như
vậy, một người đi học thi đỗ làm
quan th́ cả họ được nhờ, tôi tin rằng
cái sự hiếu học kia chắc chắn là sẽ
giảm đi đáng kể. Sau cái câu chuyện Pḥ chính
thống, câu chuyện Quan văn câu chuyện quan văn
chỉ dừng lại khi nho học thất thế. Công
bằng mà nói th́ ở một gia đoạn ngắn
của lịch sử, tức là ở đầu thế kỷ
20, trong cả nước từ năm 1945, đến
năm 1975 ở miền Nam có một cơ hội
để cặp bài trùng tri thức và quyền lực có
thể tách nhau ra được và quả thực cũng
có tách nhau ra phần nào. Nhưng đấy là một khoá
học tiếc thay là rất ngắn, quá ngắn để
giới trí thức Việt Nam thoát ra khỏi cái ṿng
kiềm toả bằng quyền lực chính trị
để trở thành một lức lượng
độc lập như giới trí thức ở các xă
hội dân chủ hiện đại. Chúng ta có thể coi
những vận động cải cách dân trí và dân chủ
ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 độc
lập với cái chính quyền nửa phong kiến và
nửa thực dân đương thời. Và quả nhiên có
một tầng lớp trí thức văn nghệ sỹ
tự do, tức là không ăn lương của nhà
nước, không hưởng bổng lộc của chính
quyền, không phải là các công chức, viên chức trong
bộ máy cai trị. Một tầng lớp như vậy
quả nhiên là có xuất hiện, điều này cũng
lặp lại ở miền Nam trong khoảng từ năm
1954 đến 1975. Thế nhưng lịch sử đă
quyết định diễn ra theo chiều hướng là
tự lặp lại. Bi kịch của một
người như Phạm Quỳnh, trí thức xuất
thân hoàn toàn độc lập có đủ mọi cơ
hội và đủ mọi uy tín để tồn tại
như một tiếng nói, một uy tín tinh thần, một
trọng lượng xă hội độc lập hẳn
hoi nhưng cuối cùng cũng không vượt qua nổi
sự mê hoặc của quyền lực chính thống.
Tất nhiên là Phạm Quỳnh trở thành Thượng
Thư Bộ Lại ở trong triều Nguyễn với
một hy vọng là mượn những phương
tiện chính trị để mà hành cái đạo của
ḿnh. Thế nhưng, ông Tây học Phạm Quỳnh vậy
là cũng hành động không khác ǵ ông Khổng Tử.
Khổng Tử chả làm được điều ǵ khi
c̣n đang tại chức, Khổng Tử chỉ có đánh
xe đi bát phố, nghe nhạc và b́nh phẩm về đàn
bà, về cách hoạ đàn bà là đúng hơn khi tại
chức. Và Phạm Quỳnh cũng chả làm
được ǵ cho cái đạo của ḿnh trong suốt
thời gian làm Bộ trưởng như vậy, và
Phạm Quỳnh có lẽ cũng c̣n lâu mới là
người trong giới trí thức vừa ghét quyền
lực và vừa phục vụ quyền lực như
vậy. Từ năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam
và đến năm 1975 ở trong hoàn cảnh đất
nước th́ có thể nói rằng là câu chuyện của
cặp bài trùng trí thức và quyền lực lại
được kể tiếp vớin những t́nh tiết
thực ra là giống hệt ở trong lịch sử.
Chỉ có pha thêm những màn gay cấn đặc trưng
của cía thời đại này mà thôi. Tôi cho rằng
chỉ có những người rất ưa sơ
đồ hóa hiện thực mới cho rằng trong xă
hội cộng sản hay xă hội chủ nghĩ
Tư không có chỗ cho
trí thức. Không phải như vậy nó chỉ không có
chỗ cho các trí thức bất đồng quan
điểm, bất đ̣ng tư duy mà thôi. Một xă
hội của đồng chí tất nhiên không trải
chiếu hoa cho những kẻ bất đồng chí.
Nhưng điều đó không có ǵ là mới mẻ, không
phải là đặc sản riêng của chuyên chính vô
sản, mà của bất kỳ nền chuyên chính nào.
Một trí thức từng là đồng chí như Nguyễn
Trăi khi thành bất đồng chí tất nhiên cũng
phải chịu cái cảnh Chu di tam tộc. Và một nhà
văn tài hoa từng được coi là thần
tượng của sự ngông nghêng, thách thức như
Nguyễn Tuân; thực ra cũng có thể so với
Nguyễn Du; bất măn th́ có bất măn, bất đồng
th́ có bất đồng nhưng cả hai th́ dù có miễn
cưỡng hay tự nguyện cuối cùng cũng
để cho chính quyền trọng dụng ḿnh. Nguyễn
Du th́ đóng vai đại sứ đi công cán ở
nước ngoài - một chức vụ thực sự là
không thấp hèn ǵ. Nguyễn Tuân th́ cũng vậy. Hồi
sinh viên tôi thường tự hỏi: Tại sao lại
như thế? Phải tay tôi th́ không bao giờ chịu
để ḿnh ở cái thế há miệng mắc quai như
vậy thế; nhưng v́ tôi c̣n chưa hiểu về cái
thế Pḥ chính thống, cái thế quan văn của trí
thức Việt Nam, một cái thế quả nhiên là rất
há ảnh Chu di
Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam,
thực ra là một cuộc cách mạng hoàn toàn là do
giới trí thức lănh đạo c̣n quần chúng cách
mạng th́ thời nào cũng vậy là đám đông, và
đám đông trong một nước nông nghiệp là
tất nhiên là nông dân. Cách mạng vô sản ở Việt
Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức
lănh đạo một đám nông dân tranh đấu cho
quyền lợi của một giai cấp khác, đó là giai
cấp công nhân. Nếu chúng ta nói như vậy th́ việc
các quyền lợi dẫm lên nhau, sự không đồng
bộ của nhân sự và khả năng phản bội
của những bên tham gia đă được định
trước.
Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ tôi chỉ muốn
nói sự tham gia của trí thức Việt Nam ở
buổi ban đầu của cuộc cách mạng, rồi
khi cách mạng quay ra ăn thịt những đứa con
đẻ của ḿnh và bây giờ th́ rơ ràng là cách mạng
đă về hưu. Mối t́nh của chủ nghĩa
cộng sản và trí thức nhất là trí thức cánh
tả trên toàn thế giới là một mối t́nh phức
tạp, đẫm nước mắt và đẫm máu.
Nhưng tôi dám nói rằng chính cái cuộc t́nh hết sức
lăng mạn và nồng nhiệt của giới trí thức và
văn nghệ sĩ Việt Nam thuở ấy đă
chắp cánh cho cách mạng khiến cho nó không chỉ là
cuộc khởi nghĩa nông dân, bạo đ ăn
thịt những đứa
Điều ǵ diễn ra khi cách mạng không chỉ
c̣n là một ư tưởng và một lư tưởng mà đă
trở thành một hiện thức một chế
độ, một guồng máy khổng lồ. Tôi xin trích ra
ở đây một vài ḍng nhật kư của Trần
Dần năm 1958 vào cái thời điểm mà người
ngoài tưởng là sự nổi dậy trong văn
giới Việt Nam được biết đến
dưới cái tên Nhân văn Giai phẩm c̣n rất là sôi
sục. Ông ghi ngày 08-01-1958 như n
Tin chạy x́ xầm xung quanh rất là ghê gớm,
rằng Báo Văn là một cái dớt của Nhân Văn,
rằng Nhà xuất bản Hội nhà văn bị lái,
rằng Câu lạc bộ thành nơi hoạt động
của bọn Nhân Văn, chúng ra tay chèo lái một cách tinh
vi. Sự thật ra bọn Nhân Văn ấy non năm nay
họ đă theo một cái chính sách ǵ? Có thể tóm chính sách
của họ là: Sợ - Cầu an - Cố đi gần
lănh đạo - Dao động chán nản - một ngón tay
Nhân Văn cũng không có. Non năm nay họ đă nằm
bẹp cả xuống vắt tay lên suy nghĩ các nhà
hiền triết cả rồi, họ c̣n cái khao khát
chiến thắng của những người tiến
bộ nữa đâu. Nói đúng ra họ vẫn mong
đợi sự tiến bộ sẽ thắng, song họ
sẽ mong nó thắng bằng cách ích kỷ, tức là
bằng bàn tay thúc đẩy của kẻ khác hơn là bàn
tay họ, như vậy đỡ nguy hiểm hơn. Giá
lănh đạo thuyết phục, họ sẽ có cơ giác
ngộ trở nên con nhà nết na nữa cũng nên,
đằng này lănh đạo cứ cái chính sách ụi
thục vô lư măi, họ càng tủi thân và thất vọng.
Tôi biết họ chỉ mong một điều là: Mong thánh
đế hồi tâTin chạy
Những ḍng ấy được viết ra do
một trong những người cứng cổ nhất
trong Nhân Văn-Giai Phẩm là Trần Dần, tôi xin lưu ư
những khái niệm như Cố đi gần lănh
đạo - Lănh đạo thuyết phục - Mong Thánh
đế hồi tâm. Tôi cho rằng không cần phải
nhiều lời nữa để mô tả cái tính cách pḥ
chính thống này của văn nghệ sĩ Việt Nam.
Nếu có một trí thức thực sự ly pha với
quyền lực, ly pha với quyền lực không lấy
ǵ làm đẹp đẽ lắm của chế độ
cộng sản th́ phải có mười trí thức đang
nằm chờ ngày Thánh đế hồi tâm và có một
trăm trí thức không làm ǵ khác hơn là để cho cái
chính quyền ấy trọng dụng ḿời
Mao Trạch Đông trong bài nói chuyện nổi
tiếng ở Thiên An có tuyên bố thẳng thừng: Trí
thức là cục phân, nhưng người am hiểu
hiện thực của Chủ nghĩa xă hội phải
nói: Trí thức là cục vàng - những cục vàng ấy là
báu vật nằm trong tay những nhà cầm quyền.
Ở một địa vị như vậy th́ có lư do ǵ
để mà thay đổi! Người ta có thể
gọi đó là cái hèn, cái nhu nhược, cái cầu an, c̣n
tôi gọi đó là cái nghiện, nghiện chính thống.
Nghiện suốt cả một lịch sử th́ không
dễ ǵ một vài ngày mà cai ngay được.
Người nghiện th́ ít khi trách cái sự nghiện
của ḿnh mà có chăng chỉ đổ tội cho cái làm
ḿnh nghiện. Chúng ta phải buộc ḷng đi đến
một kết luận: Khi tự đồng nhất ḿnh
ở mức độ cao như vậy với giai cấp
thống trị, bất kể là giai cấp cao như
thế nào th́ cái bộ phận ưu tú nhất của dân
tộc Việt Nam là trí thức Việt Nam mặc nhiên
phải đánh mất cái thôi thúc cải thiện thay
đổi xă hội. Một ông tri thức trong đám nho
giáo làm quan tất nhiên là không bao giờ nảy sinh ra sáng
kiến xóa nạn mù chữ trong đám dân đen. Bởi
lẽ ông ta chỉ hơn họ có mấy trăm chữ
ở trong bụng. Một ông phụ trách trong Ban Văn
hóa-Văn nghệ tất nhiên là không khuyến khích ǵ
những thứ thơ văn mới lạ, bởi lẽ
nếu thiên hạ mà đi say mê thứ văn thơ mớ
lạ đó th́ thơ ông ta ai đọc? Kinh nghiệm
của chính bản thân tôi ở trong nước, với
tư cách là một nhà văn hiện nay không
được phép công bố tác phẩm ở trong
nước là: Chưa có bố "ông Đảng" hay
một "ông Công an" nào có cơ hội đọc duyệt
tác phẩm của tôi cả. Bởi v́ sao? Bởi,
trước khi các vị đó xem đến bản
thảo của tôi th́ các đồng nghiệp của tôi
ngồi ở những chức vị rất nhiều
quyền lực đă kiểm duyệt hộ chính quyền
từ khuya rồi!
Kỳ 2
(Đăng trên
báo Cánh Én số 112, tháng 04-2001)
Bây giờ tôi xin nói đến tư cách học
tṛ của trí thức Việt Nam.
Thực ra dân tộc Việt không phải tiếp
xúc với những kẻ đến từ nên văn minh
cao hơn và mạnh hơn hẳn. Láng giềng của
nước Viêt một thuở như chúng ta đă biết
là: Chiêm Thành, Ai Lao, Phù Nam, Khơme, Chiêm La, Xiêm La, Chà Và,
Nhật Bản; đương nhiên là người Việt
cũng tiếp thu điều này, điều nọ trong
quá tŕnh giao lưu với họ. Thế nhưng chúng ta có
thể lấy hẳn của người Chiêm Thành một
giống lúa chiêm mà chả buồn học hỏi ǵ
nhiều ở văn hoá và ngôn ngữ của họ. Chúng ta
lấy biết bao điệu nhạc buồn của
họ vào chính cái quan họ Bắc Ninh nổi tiếng.
Chúng ta đă khiến cho cái làn điệu dân ca đó
trở nên buồn nhất trong các làn điệu dân ca
của miền Bắc nói chung, lúc đó miền Bắc là
cái nôi văn hoá và lúc đó Việt Nam chỉ dừng
lại ở miền Bắc. Chúng ta lấy của họ
như vậy mà chả buồn học hỏi điều
ǵ ở họ, không buồn nghiên cứu chút ǵ về
họ và thậm chí dường như chúng ta chôn phắt
họ đi không tiếc nuối ǵ hết. Như vậy
ở một cái thế của kẻ mạnh hoặc ít
nhất ở cái thế của kẻ bằng vai th́
người Việt chẳng thèm học hỏi ai cả,
chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả. Thế
nhưng khi ở cái thế của kẻ yếu, của
kẻ bị chinh phục, bị khinh bỉ, bị
nhục nhă th́ sự học hỏi của chúng ta mới
vội vă bắt đàu. Tôi biết trong một tác phẩm
về việc người Việt chẳng có ai buồn
học biết Nhật như sau: ... người Nhật
chiếm nước này chưa đủ dài để
người nước này thèm tiếng Nhật, nỗi nhục
chưa ngả th́ ḷng yê sau:
Cái sự học của trí thức Việt Nam
trong cái giằng xé giữa một bên là nỗi nhục
một bên là ḷng yêu là một sự học đầy mâu
thuẫn, thậm chí có thể nói là bệnh hoạn
đầy những đau khổ mà bản thân tôi có
thể chia sẻ nhiều phần. Ta hăy lấy ví dụ
về việc học này qua cách sáng tạo chữ viết.
Cả người Việt lẫn người Nhật
đều không có chữ viết riêng. Trung Hoa th́ lại có
chữ viết, nhưng Trung Hoa lại không băng qua
biển mà mang chữ viết đến cho người
Nhật. Và nói chung th́ Trung Hoa là một nước lục
địa họ tin ở con ngựa hơn con
thuyền, một cái từ mà chúng ta gán cho họ dùng
để chỉ họ là người Tầu thật ra
chả đúng tư nào, họ là dân tộc không liên quan
đến tầu bè. Trung Hoa rơ ràng không băng qua biển
để cưỡng bách người Nhật phải
học sách Tầu và viết chữ Tầu, mà chính là
người Nhật đă tự động băng qua
biển đến Trung Hoa rồi khuân một ít văn hóa
Trung Hoa, trong đó có chữ viết về nhà họ
để dùng tạm trong lúc c̣n thiếu thốn. Cái thái
độ đi học của người Nhật như
vậy là thái độ chủ động tích cực và có
sự ṣng phẳng của nó, cần th́ đọc, thích th́
đọc, hoàn toàn là tự nguyện. Và một khi
người Nhật đă mất công lặn lội như
vậy để khuân về nhà từng ấy bộ
chữ Trung Quốc th́ họ cũng dùng hết, không
vứt đi đâu bộ nào cả. Tất nhiên, không
phải ngày một ngày hai, nhưng sau trên dưới
khoảng mười thế kỷ sau nhiều thất
bại th́ người Nhật cũng dùng được
bộ chữ Trung Quốc trong việc ghi lại tiếng
Nhật. Chữ Nhật ra đời và trụ
được cho đến ngày nay trên cơ sở bộ
chữ Tầu giản tiện. Một người
Nhật biết tiếng Tầu th́ rất đáng quư,
thế nhưng nếu không biết th́ họ vẫn có
khả năng dùng tốt chữ Nhật của họ.
Họ đă thành công trong việc đi học ở nước
ngoài và làm ra được cái mà họ chưa có. Họ là
hạng học tṛ ời Tầu
C̣n việc sáng tạo chữ viết của
người Việt diễn ra như thế nào?
Người Việt chúng ta chẳng cần lặn lội
sang Tầu mà học hỏi ǵ cả, mà chính là người
Tầu mang một núi khí giới, một rừng
người đến trước, rồi sau đó khuôn
một ḥm sách sang sau. Dĩ nhiên là người Việt
vừa học vừa chửi, giống hệt như
vừa học vừa chửi người Pháp, vừa
học vừa chửi người Liên Xô, vừa học
vừa chửi người Mỹ. Cái sự vừa
học vừa chửi này nó biến thiên qua nhiều cấp
độ và tuỳ vào diễn biến và triển vọng
trong mối quan hệ giữa thầy và tṛ. Ở trong dân
gian cái thái độ lưỡng phân này thường bùng
nổ chỉ ở thời gian đầu và sau đó th́ có
thể nói là cái ǵ của ta sẵn có, cái ǵ mà nó bắt ta
phải học dần dần cũng đồng hoá vào nhau
ở cấp độ dân dă đôi khi không phân biệt
nổi xuất xứ nữa. Thí dụ như nói dến
ông Bụt chẳng hạn, nào ai c̣n rạch ṛi rằng
đấy là một ngoại kiều Ấn Độ mà tên
phải gọi là Buddha cơ, nào có ai phải rạch ṛi
đến thế đâu. Nhưng trong giới trí thức
th́ cái thái độ lưỡng phân kia là cả một
tấm bi hài kịch có pha đầy phi lư, những
điều trái khoáy, những pha nực cười và
tất nhiên là rất nhiều pha rất là vô duyên. Với
giới trí thức Việt Nam th́ chỗ này có sự
rạch ṛi của nó. Cái học thuyết của ông Bụt
không mang tên là Bụt giáo mà mang tên là Phật giáo, bởi
lẽ giữa chữ Bụt và chữ Phật có một
khoảng trống, và trong khoảng trống ấy là ông thầy
Trung Hoa. Việc người Việt luôn có những kẻ
thù mạnh và giỏi hơn ḿnh nên người Việt
buộc phải tiếp thu cái nền văn minh của
kẻ thù, viêc ấy vừa là một bất hạnh
vừa là một diễm phúc. Rơ ràng là trên đời
chả có cái ǵ là không có ít nhất là hai mặt của nó,
chỉ có điều sức mạnh và tầm vóc của
một nền văn hoá biểu hiện ra ở chính cái
chỗ mà nó vận động như thế nào trong cái
sự phức tạp đa chiều đó. Nó có đủ
khả năng khống chế sự bất hạnh và
khuyếch trương cái diễm phúc kia lên không, hay là
ngược lại nó chả có một chủ trương
chiến lược nào cả, cứ tiện lúc nào
sướng cái hay của Tây của Tầu th́ khen lấy
được, học lấy được, lúc nào cáu lên
th́ vứt hết dẹp hết quay về trâu ta ăn
cỏ đ̣ng ta. Và tôi ngờ rằng cái sự tuỳ
tiện này chính là sự ứng xử của chúng ta. Người
ta có thể cho cái sự tuỳ tiện một cái tên quan
trọng hơn là Sự linh hoạt chẳng hạn,
nhưng tên có hay như thế nào th́ cũng không thể kéo
cái hiện thực dở đó theo được.
Những kẻ bị buộc phải đi học trong
t́nh thế lưỡng phân th́ phải dẫn đến
hệ quả ǵ? Một trong những hệ quả là
hắn không bao giờ học hết chữ thầy.
Mới học được nửa trang, mới
đọc được nửa trang, học đến
nửa quyển sách th́ cái phanh của ḷng yêu nước,
ḷng căm thù ngoại xâm (Tất nhiên là những cái đó
rất chính đáng!) đă chặn lại và hắn
nhất quyết quay xa với khẩu hiệu Tự
lực cánh sinh, hoặc phương châm sáng tạo ứng
dụng vào hoàn cảnh Việt Nam nghiên cứu đối
phương. Chẳng hạn khi người ta có một
kẻ thù th́ phải nghiên cứu nó và đó là động
cơ để học hỏi nền văn minh của
kẻ thù. Chỉ có điều tôi cảm giác rằng
sự học, sự nghiên cứu của chúng ta chỉ
dừng lại ở cái mức tin tức t́nh báo,
đại loại như cái thông tin rằng quân Nguyên Mông
không thạo đường thuỷ, hay đại quân
hậu cần của giặc hiện đang tắc
nghẽn ở đoạn nào. Chắc là cái sự học
sự nghiên cứu của chúng ta nó dừng lại ở
chỗ ấy, nó khác hẳn sự nghiên cứu của
người Tầu, người Pháp, người Mỹ
về chúng ta. Có một thực tế là các học giả
Việt Nam ngày nay muốn thực sự nghiên cứu
về Việt Nam th́ không thể không sang Trung Quốc, Pháp
và Mỹ để ngồi đọc tài liệu Việt
Nam, mà những nước đó đem về giữ trong
những thư viện và trong văn khố của họ.
Tôi có một người bạn, hiện nay đang lang
thang ở các trường đại học Mỹ
để nghiên cứu về Phan Khôi. Một cái hành tŕnh
hết sức ṿng vo v́ sao? Để nghiên cứu về Phan Khôi
th́ anh phải đọc báo của Việt Nam ở
những năm 30, những báo th́ chúng ta không giữ lại
đầy đủ, chúng ta không giữ lại theo đúng
tinh thần của người Việt là thời nào
biết chuyện của thời đó, thời nào khoanh
lại thời đó, thế hệ nào khoanh lại thế
hệ đó không có dính líu ǵ đến thế hệ sau
nữa cả. Nhưng người Pháp th́ khuân những
thứ báo đó về Pháp, không phải chỉ khuân một
bản mà khuân nhiều bản. Cái bản thừa, bản
đúp th́ họ bán lại cho người Mỹ và bây
giờ th́ Bộ văn hoá Pháp cấp cho một nhà nghiên
cứu Việt Nam một khoản tài trợ để nhà
nghiên cứu Việt Nam sang Mỹ mua số báo Việt Nam
đă được Pháp bán lại cho Mỹ, để
nghiên cứu về một nhân vật Việt Nam đàu
thế kỷ. Đối với giới sử học
Việt Nam, các công tŕnh của cơ quan nghiên cứu Pháp
tại Viễn Đông-Bác Cổ là một chỗ dựa không
thể thay thế nổi. Rơ ràng là thực dân Pháp muốn
chinh phục và bám trụ ở Đông Dương và
điều đó th́ không có ǵ để bàn căi cả. Để
làm điều ấy th́ họ cần hiểu biết
về cái xứ sở mà họ muốn chiếm giữ,
hiểu biết tường tận về văn hoá,
một nền văn hoá xa lạ với họ, chứ
không phải chỉ là thu thập những tin tức t́nh
báo. Chắc chắn là hoạt động của Viễn
Đông- Bác Cổ do Bộ thuộc địa Pháp tài trợ.
Các học giả và trí thức Pháp có thể bị dùng vào
công việc không lấy ǵ làm đẹp đẽ lắm,
song bản thân công việc của họ diễn ra nghiêm túc
và thấu đáo. C̣n các học giả Việt Nam có thể
là công cụ cho một mục đích chính đáng, song
kết quả công việc của họ lại tạm
bợ và một ngoại
Xét về phương diện này th́ trí thức
Việt Nam ngoại lệ nhất là Nguyễn
Trường Tộ và bản thân Tự Đức cũng là
một bậc trí thức không đến nỗi là ngu dân
như trong sách sử mô tả. Song như chúng ta đă
biết, trong chương tŕnh Canh Tân được
Nguyễn Trường Tộ đề nghị và rất
nhiều điểm cũng được Tự Đức
tán đồng không hề được thực hiện.
Đa số giới cầm quyền đương thời
cũng là các bậc học giả hiểu cao, biết
rộng, họ có đủ lư do cần thiết để
cản trở chương tŕnh Canh Tân đó, mà cái lư do là
Nguyễn Trường Tộ là người theo đạo
Tây chỉ là một cái cớ.
Một mặt th́ chưa học tới nơi
tới chốn đă sốt sắng sáng tạo để
rồi toàn đi đến những kết quả nửa
vời như vậy, mặt khác khi chỉ c̣n một ḿnh
với cái đống sáng tạo dở dang không dùng được
đó th́ người trí thức Việt Nam mới lại
trở thành một học tṛ ngoan thậm chí rất ngoan.
Ngoan tới mức thành kẻ nô lệ, thành bảo hoàng
hơn vua. Thậm chí Khổng Tử hơn cả Khổng
Tử, ga-lăng hơn cả người Pháp, Mác-xít
hơn cả cha đẻ của Mác-xít. Lúc bấy giờ
cái người học tṛ thích sáng tạo ấy tự phong
cho ḿnh những cái danh hiệu chẳng hạn là
đại diện xứng đáng nhất cho những
trường phái ǵ ǵ đó của những ông thầy ǵ ǵ
đó... Khi Trung Hoa đă là Trung Hoa dân quốc, trí thức
Trung Hoa đă miệt mài ngồi dịch sách của Rousseau,
Montesquieu, th́ lúc đó trí thức Việt Nam vẫn c̣n
chết ch́m trong cái mớ Thi Vân Tử Viết' (?...)
của ḿnh, và triều Nguyễn lúc đó c̣n trưng ra
những nghi lễ nho giáo c̣n khắt khe hơn triều
đ́nh Bắc Kinh một thuở. Ví dụ, ta có thể
lấy chủ nghĩa lăng mạn trong văn học
Việt Nam Tiền chiến làm ví dụ cho việc này.
Tất nhiên là phong trào Thơ mới và Văn xuôi 1930-1945 là một
bước tiến khổng lồ cho văn học
Việt Nam, song thần tượng của nó, nguồn
ảnh hưởng của nó từ văn học Pháp lúc
đó là những thứ đă diễn ra trước đó
có khi cả thế kỷ. Cái mà ông thầy Pháp đă bỏ
đi trong giáo tŕnh của ḿnh từ mấy đời th́
anh học tṛ Việt vẫn c̣n nghiền ngẫm say xưa
lắm, c̣n cái mà ông thầy ấy đang giảng ở
trên lớp th́ anh học tṛ ấy chỉ nghe có một
nửa tai rồi bảo rằng: Cái đoạn này th́ ta
nên tự lực cánh sinh. Cho đến tận bây giờ
cái tinh thần của văn chương lăng mạn
tiền chiến vẫn chế ngự trong văn
chương hiện đại, nếu có ai phê b́nh th́ các
vị ư vênh mặt lên bảo rằng: Văn chương
Pháp cũng thế, dám chê cả văn chương Pháp à!?
Song những điều đang diễn ra trong văn
học Pháp th́ chẳng có ai buồn học, có bảo là
phải học th́ các vị ư lại bảo: Biết
cả rồi, xoàng cả thôi, cũng chả hơn ǵ ta
đâu, ḿnh làm có khi c̣n hay hơn! Như thế th́ hỏi
làm sao mà văn chương nghệ thuật nước ta
không luôn luôn đi lạc một bước, ít nhất là
một bước sau thế giới. Năm mươi
năm nữa chẳng hạn các học tṛ Việt lại
đi mở những thứ sách của thế giới bây
giờ ra để học lấy học để, đă
học như thế th́ lấy đâu ra thời gian
để học chính những thứ đang cùng thời
với ḿnh. Hỏi làm sao cái học đó không phải là cái
học viển vôớ
Giữa chủ động nô lệ và chủ
động sáng tạo ta có thể quan sát rơ ở các trí
thức Việt, nhất là khi họ đi ra nước
ngoài để học hỏi. Chẳng hạn, khi ra
nước ngoài học về khoa học quản lư, là
một thứ mà chúng ta chưa bao giờ có. Rơ ràng
trước khi một nước phương Tây quyết
định đầu tư vào một chỗ nào đó
ở Việt Nam th́ họ đành phải làm cái việc
không đừng được là đào tạo, cũng
như việc họ bán cho chúng ta một cái máy bay th́
họ phải làm cái việc là đào tạo cho chúng ta
một anh phi công, đấy là chuyện họ không
đừng được. Như vậy là trí thức
Việt cắp cặp đi học khoa học quản lư
hiện đại, chữ thầy được
mười th́ học tṛ nghe được một, thôi
thế th́ cũng là may rồi. Nhưng cái mà tôi
thường xuyên chứng kiến ở những
người đó là họ sẵn sàng vứt tất
cả một phần đó đi, và bảo rằng: Úi
trời, cái kiểu quản lư này không thích hợp với hoàn
cảnh Việt Nam! Cũng là có lư chứ không phải là
không có lư, tất nhiên là không ai đi bệ nguyên xi
nước ngoài về mà dùng được, chuyện
đó tôi không bàn. Tinh thần sáng tạo th́ bao giờ
cũng muôn năm cả, thế nhưng cũng chính
những người đó khi quay trở về
nước đối mặt với những lề
lối quản lư rất Việt Nam, rất mông muội,
rất trung cổ th́ lại giương cái sở học
của ḿnh trong các chuyến đào tạo ở
nước ngoài như vậy ra mà bảo rằng: Tây nó làm
như thế, Tây nó khác, Tây nó phải như thế; Không
được thế này... Không được thế
kia... Nhưng Tây nó bảo như thế nào th́ không c̣n
nhớ nữa, thế là lại đi học nữa! Xă
hội Việt Nam sinh ra một tầng lớp trí thức
không làm điều ǵ khác hơn là suốt đời đi
học như vậy. Cứ đến lớp th́ chê
thầy, cứ về nhà th́ nhớ thầy xin cắp
cặp theo học lại. Suốt đời đi học
như vậy, như thế th́ làm sao được
như người Nhật tự làm ra chữ viết cho
ḿ Úi
Chữ Nôm Việt Nam được làm ra về
xuất phát điểm thực ra không khác ǵ chữ
Nhật, chỉ có điểm khác là nó không thành công.
Muốn dùng chữ Nôm th́ người ta phải biết
dùng chữ Hán trước đă, rồi sau đó phải
học nguyên tắc cấu trúc chữ Hán vốn rất là
phức tạp như vậy vào làm sao cho nó thành ra cái
gọi là chữ Nôm. Tôi lấy một ví dụ: chữ
Trời chẳng hạn, muốn viết ra mặt giấy
th́ ta phải viết như thế nào? Th́ người ta
phải biết hai chữ Hán là chữ Thiên và chữ
Thượng, phải biết cách ghép hai chữ này lại
với nhau để thành một chữ Trời. Quả
nhiên là một cái logic vô cùng kinh hoàng đối với h́nh
dung của tôi, cứ làm như c̣n một cái Thiên nào khác
ngoài cái Thượng đó. Mà đă thế sao không dùng luôn
tiếng Hán chỉ có một chữ Thiên là xong, tại sao
lại hai lần tiếng Hán như thế gộp vào nhau
để ra thành chữ Trời? Trong cái công tŕnh sáng
tạo chữ Nôm ấy, rơ rà dụ: "Sáng tạo là ǵ?
- Là ghép hai cái dập khuôn vào
với nhau! Tôi chưa bao giờ dám tự hào về cái
chữ Nôm mà theo tôi (xin lỗi các vị) (?..) là điển
h́nh cho cái tinh thần khổ dân (?..). Phải học cái
chữ của kẻ thù th́ đơn giản là khổ
thôi, nhưng học cái chữ của ḿnh bằng cách hai
lần đi qua chữ của kẻ thù th́ là sướng?
Như thế th́ chẳng phải khổ dân (?..) th́ là cái
ǵ? Song kết cục quá tŕnh làm ra chữ viết như
thế nào th́ lại là bất ngờ lớn cho chúng ta, chữ
quốc ngữ là tác phẩm của một số cha
cố Ḍng Tên. Cái may của chúng ta trong câu chuyện này là
những người truyền giáo có mặt ở Việt
Nam trong một thời gian dài, có ảnh hưởng quan
trọng là các vị Ḍng Tên nổi tiếng là những trí
thức tu sĩ uyên bác, có năng khiếu ngoại ngữ
và có một ḷng khoan thứ nhất định đối
với những tín ngưỡng khác, chứ không phải là
các vị của Ḍng Donimique (?..) như trong trưo với
nhau! Tôi chưa bao giờ
Những căn bệnh khác của
"người học tṛ Việt Nam" trong t́nh thế
lưỡng phân này chúng ta có thể kể ra. Học như
vậy th́ không thể không mặc cảm. Đương nhiên
là phải thấy ḿnh bé nhỏ, kém cỏi trước cái
khổng lồ, phong phú và cái ưu thế của các thành
tựu văn hoá khác. Tôi thực sự chưa
được chứng kiến một trí thức hay
một văn sĩ Việt Nam nào có một ḷng tự tin
đáng thuyết phục khi họ đi ra nước
ngoài. Nếu mặc cảm như vậy th́ không thể
không chán nản mà ỳ ra và ăn sẵn. Dường
như trí thức Việt Nam có thể rất yên tâm mà
nghĩ rằng: Không có chúng ta th́ thế giới vẫn
tiến bộ ầm ầm. Thế th́ hăy đợi
người ta tiến bộ mà ăn nhờ có phải là
đỡ mất công hay không, mà đằng nào nếu ḿnh
làm th́ có ra ǵ đâu mà làm. Thế nhưng ăn sẵn
cũng có rất nhiều cách ăn sẵn. Cái cách ăn
sẵn của trí thức Việt Nam chúng ta nó chẳng
giống ai cả, c̣n chọn chán, c̣n chê chán, c̣n chặt
miếng ra và chọn miếng nào cho vừa mồm ḿnh,
vừa khẩu vị ḿnh, dễ cho cái bụng ḿnh tiêu hoá
th́ mới dùng. Tất nhiên điều đó cũng có cái
hợp lư của nó, song v́ sao không thử xem lại cái
miệng ḿnh có nhỏ quá hay không, khẩu vị của ḿnh
có cần thay đổi đi hay không và bụng dạ ḿnh
có c̣n đủ tốt để tiêu hoá cái ǵ đó hay khô
rằng:
Tóm lại, khi cái học của một tầng
lớp có học của chúng ta như thế th́ cái học
ấy có hơn ǵ sự vô học của một đám
đông hay không. Hỏi làm sao mà cái học ấy không giúp ǵ
được ai. Tôi xin dừng lại ở đây.
Phạm Thị Hoài
LTS: Dưới đây thư trao
đổi giữa chị Phạm Thị Hoài và anh Phạm
Hoàng xung quanh bài Tọa đàm và cuộc Thảo luận.
Chúng tôi xin giới thiệu tới diễn đàn; kèm
lời tái xin lỗi (và lời... thanh minh cho sự hiểu
nhầm và chậm trễ này: có thể là do trung gian Ban
tổ chức cuộc Tọa đàm 10.2000, Berlin mà sự
liên lạc giữa anh PHoàng và chị PTHoài chưa
được ổn thỏa chăng?
Mong rằng
cuộc Thảo luận về đề tài "Trí
thức - Văn Nghệ Sĩ và Thời Cuộc Việt
Nam" hẳn sẽ có thêm một không khí mới; Và,
để từ đó đạt được thành
quả tốt hơn, như lời chị PTHoài, trong
thư: "Tôi thành thực hy vọng cuộc thảo
luận rộng răi của các anh chị có thể
vượt ra khỏi khuôn khổ buổi nói chuyện
của tôi, sự đồng t́nh hay phản đối sẽ
không giết chết đề tài, mà cho nó những
tương quan mới."
Thư của chị Phạm Thị Hoài
gửi anh Phạm Hoàng
Thưa anh Phạm Hoàng,
Một bài nói
chuyện trong ṿng một tiếng đồng hồ,
trước một cử toạ hơn 50 người
thuộc những tŕnh độ, học vấn, nghề
nghiệp, tuổi tác khác nhau, như bài nói chuyện của
tôi ở Berlin tháng 10 năm ngoái, đương nhiên không
phải là một bài diễn văn viết sẵn, lại
càng không phải là một công tŕnh nghiên cứu, cũng
như không phải một essay văn chương. V́
vậy, tôi đă yên tâm là những người có nhă ư phổ
biến bài nói chuyện ấy thông cảm cho yêu cầu
của tôi ngay từ đầu rằng, không thể đem
nó đăng tải được. Một bài đăng
tải cần ít nhất một lối bố cục, hành
văn và từ vựng khác, và trên hết, nó cần một
consensus trong phạm vi đăng tải, để
chẳng hạn khỏi sa vào những vấn đề coi
như đă được giải quyết trong consensus
đó. Xin lấy một ví dụ nhỏ về việc
không xuất phát từ cùng một consensus: Một tờ báo
nghiêm nghị ở Việt Nam có đăng bài phê b́nh
lối quảng cáo câu khách của thị trường.
Một trong những luận điểm đưa ra là tính
vô luân của quảng cáo, nó khuyến khích người ta
từ bỏ những giá trị cao quư như lao
động (thuyền đang đánh cá) và coi thường
cả tính mạng (dưới nước nhiều cá
mập) mà lao xuống biển đuổi theo một lon
Coca Cola lỡ rơi.
Đó là những
điều kiện tối thiểu cho việc đăng
tải.
Diễn đàn
của các anh chị đă bỏ qua yêu cầu này. Ngày 24.05
tôi mới chính thức được thông báo về
việc tạp chí Cánh Én đă đăng bài nói chuyện
trên cơ sở băng ghi âm và sau đó là cuộc thảo
luận trên lưới từ nhiều tuần nay. Bây
giờ th́ việc đính chính hay xin lỗi tác giả không
c̣n ư nghĩa nữa.
Tôi thành thực hy
vọng cuộc thảo luận rộng răi của các anh
chị có thể vượt ra khỏi khuôn khổ buổi
nói chuyện của tôi, sự đồng t́nh hay phản
đối sẽ không giết chết đề tài, mà cho
nó những tương quan mới.
V́ lư do thời gian,
tôi đă không tŕnh bày được một vấn
đề khác trong buổi nói chuyện nêu trên là: tư cách
đàn ông của trí thức Việt Nam, đặc biệt
thông qua ví dụ về tính macho kiểu Việt trong văn
chương Việt Nam.
Cũng xin lưu ư
thêm, cuốn nhật kư vừa ra mắt của Trần
Dần nhan đề Ghi 1954-1960 do td mémoire xuất bản,
Văn Nghệ in và phát hành, tôi là người biên soạn,
có thể cho biết nhiều khía cạnh về trí thức
và quyền lực tại miền Bắc Việt Nam trong
giai đoạn đó.
Việc cá nhân
cũng như tác phẩm của tôi được một
số người đặc biệt quan tâm trong cuộc
thảo luận này cũng là lẽ thường, bởi điều
nói ra tự nó là một phần, song phần khác
đương nhiên do người diễn đạt, mà
nghề của tôi là nghề t́m cách diễn đạt
những điều tự chúng không có ǵ là mới mẻ.
Song để tránh chiếm nhiều chỗ hơn mức
cần thiết, tôi có thể cung cấp một chân dung
PTHoài, gồm tất cả những chi tiết và
đặc điểm nhận dạng mà những
người biết rơ tôi hơn tôi đă khẳng
định. Mong rằng nó sẽ thoả măn
được người quan tâm, khiến người
đó có thể chuyển sang hướng khác, sau khi yên tâm
kết luận rằng một chân dung thảm hại
như vậy cũng được tiếng là một nhà
văn có chút tên tuổi th́ đủ biết trí thức
của chúng ta ở tầm mức nào.
Riêng bài viết
của cụ Phù Vân (thể theo yêu cầu về xưng hô
của cụ, tôi xin dùng chữ cụ cho an toàn, bởi
không biết tuổi tác, giới tính hay danh vị), là một
mẫu mực về sự sáng suốt, chân thành và tôn
trọng phụ nữ, lại được cụ có nhă
ư gửi đích danh đến địa chỉ riêng,
vậy tôi xin phép được lấy bài ấy làm tư
liệu văn học để dùng trong công việc sau này.
Ngoài ra, cụ c̣n vận dụng truyền thống
thượng vơ của dân tộc vào môn thể-thao-kiến-thức
vốn được chúng ta ưa chuộng. Tôi từng
được một nhà thể-thao-kiến- thức
gọi ra thi đấu như sau: PTHoài bảo một nhân vật
của ḿnh là phong độ như Lăo Trang, vậy là PTH
thậm chí không biết rằng chỉ có Lăo Tử và Trang
Tử, hai người khác nhau, chứ không có ai tên là Lăo
Trang cả. Lần ấy tôi đă ph́ cười mà xin thua
cuộc ngay từ đầu cho tiện. Song cụ Phù Vân
vô cùng nghiêm túc và hết ḿnh cho lẽ phải, tôi e cười
là phạm thượng, đừng chẳng
được chắc cũng phải
thể-thao-kiến-thức một phen.
Thưa anh,
Là một trong
những người điều khiển cuộc thảo
luận, mong anh cho biết, nếu diễn đàn của
các anh chị cho là cần thiết, tôi xin gửi cái chân dung
PTH ấy và xin lên vơ-đài-kiến-thức. Nếu không
cần, chúng ta có thể hoàn toàn tập trung vào đề
tài.
Phạm Thị Hoài
Vài Tản
Mạn Nhân Đọc “Tổ Quốc Ăn Năn”
Trần Trung Việt
Đất nước suy vong,
trách nhiệm trước hết thuộc về những
người trí thức[i][i]. Nhưng, đứng
trước cái thực trạng bi đát của quê
hương hôm nay, sau lưng là quá khứ của một
cuộc chiến xương máu mà vết thương
đến nay, một phần tư thế kỷ đă
qua, vẫn chưa lành và trước mặt là một
ngỏ cụt vô vọng, nổi trăn trở trong
mỗi người trí thức Việt Nam có lẽ lớn
hơn bao giờ hết. Buồn trước phận
nước long đong như Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa
th́ cũng có thể về sống ung dung với một
chữ NHÀN “nơi vắng vẻ” [ii][ii], cho nó chỉ là một thời
mạt vận. Mà nếu ta chỉ có buồn thôi th́ cũng
không dằn vặt lắm. Trí thức Việt Nam dằn
vặt v́ phải cưu mang một mối nhục là con dân
của một đất nước đói nghèo, lạc
hậu; như dân tộc Việt Nam hơn một trăm
năm nay vẫn phải cưu mang những mối
nhục: nhục bị thống trị bởi ngoại
bang, nhục v́ phải chiến tranh tàn sát lẫn nhau,
nhục v́ đất nước độc lập rồi
mà vẫn không có tự do, vẫn giết chóc, vẫn tù
tội, vẫn ruồng bỏ nhau và bị người ta
ruồng bỏ. Trí thức Việt Nam ngày nay không có
được cái may mắn của người xưa, thu
ḿnh vào chốn điền viên, “bàn cờ, cuộc
rượu, vầy hoa trúc”[iii][iii], xuưt xoa vết thương ḷng
chờ đến thời hưng trị. Bởi, nếu
chúng ta thu ḿnh, thời hưng trị sẽ không bao giờ
đến. Thế giới chung quanh đă bỏ rơi
đất nước Việt Nam quá xa. Và họ cũng
không dừng lại đợi ḿnh. Mỗi chúng ta phải
nhọc công lắm th́ hai mươi năm nữa quê
hương ḿnh may ra mới kịp bằng người.
Không bằng người th́ hẵng nói đến thời
hưng trị.
Tôi đọc “Tổ Quốc
Ăn Năn” (TQAN) trong nỗi trăn trở đó. Sáu
trăm trang sách không phải là một dung lượng
lớn, nhưng cuốn sách này chuyển tải những
thách thức, những khái
niệm lớn mà người Việt chúng ta, nhất là
thế hệ trẻ, trong cuộc hành tŕnh của dân
tộc đi vào tương lai sớm muộn rồi
cũng phải đương đầu. TQAN chứa
đựng những nhận định không nhân
nhượng về đất nước, lịch sử,
văn hóa và con người Việt Nam[iv][iv]. Bịnh càng nặng th́ thuốc
càng phải đắng. Căn bịnh trầm kha của
đất nước đ̣i hỏi ở mỗi
người Việt Nam một niềm tin tuyệt
đối vào tương lai của dân tộc, đồng
thời phải có một thái độ trầm tỉnh và
kiên quyết để xét lại cái thể trạng
của dân tộc ḿnh. Những lụn bại và đổ
vỡ toàn diện của đất nước không cho
phép chúng ta chấp nhận những giải thích hời
hợt. Chúng hẳn phải có một nguyên nhân máu huyết
hơn. Đến nay phần lớn những người
Việt dân chủ tiến bộ đều đồng ư
rằng chủ nghĩa cộng sản là nguyên nhân trực
tiếp gây ra tai họa này. Chỉ cần xây dựng
lại một thể chế chính trị dân chủ th́
tự nhiên đất nước Việt Nam sẽ
bằng người, sẽ ấm no, hạnh phúc.
Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Tại
sao lại có chủ nghĩa cộng sản trên đất
nước Việt Nam? Điều ǵ có thể bảo đảm
rằng một chủ nghĩa cộng sản kiểu
mới nào đó không đặt sự thống trị lên
dân tộc Việt Nam trong tương lai? Chúng ta rất may
mắn khi nền dân chủ tự do mà chúng ta hiện nay
đang đeo đuổi đă là kết quả thực
nghiệm thành công của nhân loại trong hơn hai thế
kỷ qua. Có được may mắn này là v́ chúng ta
đang tụt hậu. Khi phải song hành với lịch
sử, điều ǵ có thể bảo đảm là chúng ta
sẽ không chọn lầm một con đường
như sự lựa chọn từ chối phương Tây
hai thế kỷ trước hay chủ nghĩa cộng
sản một thế kỷ sau đó? Chúng ta phải làm ǵ
để không sai lầm ở những khúc rẽ khác
của lịch sử? Sự đóng góp quan trọng
của Nguyễn Gia Kiểng là đặt ra những vấn
đề gai góc đó trong nhận thức của chúng ta.
TQAN là một cố gắng dở dang. Nếu không
đồng ư với người viết th́ trách nhiệm
của người đọc là phải tự t́m lấy
câu trả lời cho chính ḿnh.
Có lẽ tôi cũng giống
như phần lớn các bạn, những người
được cái diễm phúc đọc một loạt
hàng chục bài bàn về cuốn sách này trước khi có
được cái dịp may cầm nó trên tay. Kể ra th́
cũng là một mất mát vậy. Cái thú được cười
một ḿnh khi bắt gặp một điều thú vị
không c̣n nguyên vẹn nữa (mà cuốn sách này có quá nhiều
điều thú vị !). Nhưng bù lại th́ ta
được dịp đọc nó một cách trầm
tĩnh hơn, khách quan hơn. Khỏi phải đọc
lại nhiều lần. Có một điều mà tôi vẫn
cứ thấy băn khoăn. Cái phần đă gây nên sóng
gió nhất của TQAN, như những nhận định
được coi là táo bạo về một vài nhân vật
lịch sử hay đánh giá của ông về tính ưu
việt của văn hóa phương Tây, thật ra chỉ
đóng một vai tṛ dẫn chứng hay đối
chiếu mà thôi. Tranh luận về tính chính xác của chúng
là những cuộc tranh luận trong bao giờ ngă ngũ. V́
thật ra bản chất của những cuộc tranh
luận này không phải là các vấn đề thuộc
phạm trù của tính sử kiện mà thuộc phạm trù
giá trị. Cái h́nh ảnh Nguyễn Gia Kiểng đang
“chẻ tượng thành củi nhóm bếp” của
Nguyễn Xuân Nghĩa t́m thấy sự đồng cảm
ở nhiều người. Tôi chắc ông Nghĩa hẳn
có ư sâu sắc hơn với nhận xét đó. Tượng
của người ḿnh thường bằng gỗ cả,
chớ bằng đá th́ làm sao mà chẻ được.
Người ta cảm thấy bị tổn thương
khi mà những thần tượng lịch sử, cái
nền tảng của những giá trị t́nh cảm dân
tộc, ḷng tin và niềm tự hào của họ, bị xét
lại. Ḷng tin và niềm tự hào vào dân tộc Việt Nam
của thế hệ chúng ta khách quan hơn, và v́ thế,
kiên định hơn. Chúng ta yêu đất nước
Việt Nam bằng một t́nh yêu không điều kiện.
Có hay không có Lê Lợi, Quang Trung th́ không v́ thế mà yêu dân
tộc ḿnh nhiều hơn hay ít hơn. Hành trang vào
tương lai v́ thế mà cũng nhẹ nhàng hơn,
chỉ có t́nh yêu và niềm tin thôi, không kềng càng với
anh hùng này anh hùng khác. Lịch sử, và những khiếm
khuyết của nó, bởi thế cũng sẽ
được mổ xẻ một cách trọn vẹn
hơn. Tôi thường hay nghĩ rằng cái khoảng cách
giữa các thế hệ là một khoảng cách không
thể vượt qua, bởi những giá trị t́nh
cảm là không thay đổi được. Nguyễn Gia
Kiểng viết TQAN hẳn là cho những bạn hữu,
những người cùng thế hệ ông. Ông tâm sự,
trách móc, than phiền, và ông cho tôi cái cảm giác rằng ông
cô đơn giữa thế hệ của ḿnh. Tôi tin
chắc Nguyễn Gia Kiểng sẽ ngạc nhiên khi
nhận ra rằng thế hệ trẻ có một cái nh́n bao
dung và chia sẻ hơn đối với TQAN.
Tư
tưởng Nguyển Gia Kiểng (đọc là “của
Nguyễn Gia Kiểng” chứ không là “Kiengism” ) xoáy quanh khái
niệm ḷng yêu nước. Tác giả đào sâu vào trong kư
ức tập thể của chúng ta để chứng ming
rằng người Việt không yêu nước. Hay nói
đúng hơn, người Việt không yêu nước theo
khái niệm yêu nước mới cần thiết của
ông. Đi t́m một đề tài nhất quán trong một
cuốn sách đa dạng như TQAN là một việc
liều lĩnh. Tuy nhiên nếu phải chọn một
đoạn văn đại diện th́ tôi nhất
định phải chọn:
Ḷng yêu
nước của người Việt Nam...rất mờ
nhạt. Nó được thổi pḥng lên do sự chia
rẽ trầm trọng của dân tộc Việt Nam. Nó
không phải là một t́nh yêu v́ người ta chỉ nhân
danh tổ quốc để giết nhau chứ có bao
giờ nhân danh tổ quốc để tha thứ và nhường
nhịn nhau đâu. Sự xung đột đă khiến
mọi phe phái đều phải đề cao một
điều duy nhất mà mọi người có thể
chấp nhận, đó là ḷng yêu nước. Nhưng sự
xung đột này tự nó cũng là bằng cớ rằng
người Việt Nam không yêu nước. Nếu thực
sự yêu nước th́ người Việt Nam
trước hết phải thương yêu nhau đă,
chứ không thể phủ nhận nhau, mạt sát, lên án tiêu
diệt nhau một cách dễ dàng như vậy.
Mỗi
người Việt, nếu không là một sự
ngưỡng mộ, th́ là một niềm kiêu hănh về ḷng
yêu nước. Ḷng yêu nước được hiểu
và chấp nhận trong ư thức của chúng ta là một
sự ràng buộc t́nh cảm với nơi chôn giau cắt
rốn, với bờ tre, khóm trúc, hoặc nói một cách thi
vị hơn là với non sông đất nước. Ḷng
yêu nước c̣n được hiểu là t́nh cảm
tự ái dân tộc, không chịu luồn cúi dưới ách
ngoại bang. Đây là những t́nh cảm cao thượng.
Cao thượng và vị kỷ. Ở thời đại
lưỡng cực mà trong đó sự phân biệt chánh tà
chỉ đơn thuần là đất nước và
ngoại xâm, ta và giặc, người Việt và
người phương Bắc, những t́nh cảm này
kết tinh thành một ư chí cộng đồng mănh liệt
để chính nhờ nó mà hôm nay có một quốc gia
tồn tại với cái tên Việt Nam. Nhưng trong
một thế giới đa cực, ngoại xâm không c̣n
chỉ một Minh triều mà là Pháp, là Nhật, là Mỹ,
Nga, cộng sản, đế quốc,... và dân tộc không
chỉ một ḿnh “vua tôi nhà Lê” mà là Đông Dương
Cộng Sản Đảng, Việt Nam Quốc Dân
Đảng, Đại Việt, Dân Chủ, Bảo
Đại, ông Hồ, ông Diệm,...th́ chúng ta hoàn toàn
mất phương hướng. Tính vị kỷ của
ḷng yêu nước, chấp nhất kỷ chi kiến,
đă phân hóa chúng ta đến tê liệt. Chính v́ nó mà hơn
một thế kỷ qua bao nhiêu tai ương đă
đổ lên đầu dân tộc Việt Nam. Yêu nước là vệ
đạo. Yêu nước là yêu chủ nghĩa xă hội.
Yêu nước là yêu tự do dân chủ. Ḷng yêu nước
được chúng ta hiểu và chấp nhận chưa bao
giờ đặt trên nền tảng của t́nh yêu
thương người Việt. Bởi thế nên có
người phạm những tội tày trời với dân
tộc và nhân loại, giết hại bao nhiêu sinh linh
vẫn được tha thứ, và thậm chí tôn thờ,
v́ họ nói họ làm những việc đó nhân danh ḷng yêu
nước. Ḷng yêu nước vừa là một thứ
vũ khí để giết chóc vừa là thước đo
cho những giá trị khác. Chúng ta chấp nhận và không bao
giờ tra vấn giá trị nào là thước đo của
ḷng yêu nước? Làm thế nào biết được
hành động của một cá nhân, một đảng
phái chính trị thật sự xuất phát từ ḷng yêu
nước? Theo Nguyễn Gia Kiểng, cái thước
đo đó chính là t́nh thương đối với
người Việt Nam, nếu không yêu thương nhau th́
không yêu nước. Đơn giản chỉ có thế. Không
tôn trọng nhau là không yêu nước. Sỉ vả nhau là
không yêu nước. Ruồng bỏ nhau là không yêu
nước. Hăm dọa nhau là không yêu nước. Bỏ
tù nhau là không yêu nước. Phủ nhận quyền
được nói, được thờ phượng,
được sống của nhau là không yêu nước.
Dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn
với nhau là không yêu nước. Giết một
người Việt, dù là kẻ thù chính trị, th́ không
những không yêu nước mà c̣n là đồ phản. Cái
giá trị cần được xét lại một cách
triệt để chính là ḷng yêu nước của chúng ta.
Nguồn sinh khí của khái niệm yêu nước cũ giúp
chúng ta duy tŕ nền độc lập trong hơn hai ngàn
năm qua nay đă khánh kiệt. Trong một thế giới
đa cực hôm nay, để có thể tiếp tục
cuộc hành tŕnh với lịch sử, chúng ta cần
phải kiến tạo cho ḿnh một khái niệm yêu
nước mới: người Việt yêu thương,
tôn trọng nhau, chia sẻ một tương lai. Thiếu
vắng ḷng yêu nước này, hành tŕnh của dân tộc
Việt Nam sẽ lắm chông gai. Và ngay cả chúng ta có dân chủ
có tự do th́ cũng chưa chắc có tương lai: chúng
ta vẫn c̣n cái nguy cơ lạc hướng ở khúc
rẽ đầu tiên.
Lịch
sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc
chiến tranh, mà chúng ta được dạy là chiến
tranh để giành độc lập. Bằng một phép
cộng đơn giản, tác giả cho chúng ta thấy
rằng thật ra phần lớn những cuộc
chiến tranh đó là những cuộc chém giết nhau
giữa người Việt hoặc giữa người
Việt với láng giềng phương Nam mà thôi. Tác
giả nhận định rằng người Việt tôn
thờ bạo lực, và v́ thế không thể nào thoát
khỏi chiến tranh. Tôi không tin như vậy. Sự tàn
bạo của vua Quang Trung, Đinh Bộ Lĩnh hay của
các thể chế chính trị đương đại có
chứng minh điều ǵ th́ đó chính là sự thiếu
vắng ư thức văn hóa chính trị của người
Việt chứ không thể cho rằng họ chuộng
bạo lực. Chính trong cái khoảng trống văn hóa này,
bạo lực là công cụ thích hợp để thu
phục nhân lực cho những mục tiêu chính trị nhân
danh ḷng yêu nước. Thật ra con người Việt
Nam hiền ḥa và yêu chuộng nhân nghĩa. (Tôi nói
điều này không phải để mơn trớn ḷng
tự ái. Nó là một sự thật. Có dịp chúng ta
sẽ đi sâu hơn.) Đây chính là nền tảng
để xây đắp ḷng yêu nước mới.
T́nh yêu
thương thường là mối quan tâm cuối cùng
của chính trị. Nhưng không ai có thể hành
động vượt ra ngoài khuôn khổ của văn hóa
chính trị cộng đồng mà không bị cô lập và
loại trừ. Hồ Chí Minh và đảng cộng sản
của ông đă không thể giết người một cách
bừa băi như việc họ tiến hành cuộc
thảm sát những người Việt quốc gia hồi
sau cách mạng 1945 hay việc tiến hành cuộc nội
chiến tàn sát nhau như họ đă làm trong cuộc
đấu tranh giành độc lập vừa qua nếu
văn hóa chính trị của người Việt không cho
phép điều đó. Chúng ta coi việc giết
người trong sinh hoạt chính trị không phải là hành
động giết người. Và dân tộc Việt Nam
đă phải trả giá. (Có người lập luận
rằng những cuộc tàn sát như vậy là cần
thiết cho một cuộc chiến tranh có chính nghĩa
như cuộc chiến tranh giành độc lập. Quan
điểm của tôi là tranh luận về bản chất
của một cuộc chiến tranh là chính nghĩa hay phi
nghĩa một cuộc tranh luận vô bổ. Một
cuộc tranh luận khác có ư nghĩa hơn: chiến tranh có
cần thiết hay không. Tôi cho rằng nó không cần
thiết, kể cả chiến tranh giành độc
lập. Hăy cho tôi được nói hết! Chúng ta vẫn
có thể giành được độc lập mà không
cần phải chiến tranh. Bốn triệu người
thân của chúng ta không cần phải chết. Những dân
tộc nhỏ và khôn ngoan là những dân tộc, dựa trên
đồng thuận và đa nguyên, luôn t́m mọi cách tránh né
chiến tranh. Nói tóm lại, tàn sát nhau là một điều
hoàn toàn không thể biện minh được. Đây là
một đề tài văn hóa chính trị khác mà TQAN đă
dành nhiều quan tâm. Chúng ta sẽ trở lại vấn
đề này trong một dịp khác).
Ḷng yêu
nước mới sẽ là một thái độ nhân
nhượng, khiêm tốn. Ḷng yêu nước mới sẽ
là gốc rễ cho những liên hệ chính trị trong
tương lai. Sự tôn trọng lẫn nhau buộc chúng
ta phải đặt tất cả những vấn
đề liên quan đến vận mệnh quốc gia trên
nền tảng đồng thuận và đa nguyên. T́nh
thương sẽ loạt trừ sức mạnh bạo
lực ra khỏi chính trường và nhường chỗ
cho sự thỏa hiệp, ḷng kiên nhẫn và niềm tin vào
con người. Tôi không ảo tưởng. Đê sông
Hồng không đắp trong một ngày. Một giá trị
văn hóa căn gốc như ḷng yêu nước cũng không
thể xóa bỏ hay h́nh thành trong một ngày. Nguyễn Gia
Kiểng đă đặt viên gạch đầu tiên.
Đây là một khái niệm mới cần được
xây dựng và bồi dưỡng.
Hủy
diệt Khổng Giáo để thiết lập một
trật tự văn hóa mới làm nền tảng cho xă
hội phát triển không phải là sáng kiến của
Nguyễn Gia Kiểng. Những người cộng sản
đă làm việc này, và làm một cách thấu đáo, từ
hơn nửa thế kỷ trước bằng các
cuộc cách mạng văn hóa vô sản đẫm máu
của họ. Họ có một câu nói quen thuộc và tàn
bạo: muốn xây dựng chủ nghĩa xă hội
cần phải có những con người xă hội chủ
nghĩa. Muốn có những con người xă hội
chủ nghĩa th́ trước hết phải loại trừ
những con người không xă hội chủ nghĩa.
Đây chính là lư do cho những cuộc giết chóc ghê
rợn trong các xă hội cộng sản. Những từ ngữ
như “Stalin”, “KGB”, “Polpot”, “Cách mạng văn hóa”, “Mao”,
“cải cách ruộng đất”, “đi cải
tạo”,...đến nay vẫn c̣n làm cho người ta
giật ḿnh. Ở Việt Nam và Trung Quốc, mục tiêu
không xă hội chủ nghĩa đầu tiên, không phải
là giai cấp tư sản (v́ họ không có giai cấp này),
mà chính là Khổng Giáo. Lư luận về những ảnh
hưởng tai hại của Khổng Giáo đối
với tâm lư và văn hóa trong xă hội Trung Quốc và
Việt Nam đă có từ lâu. Nhưng có lẽ những nhà
“cách mạng văn hóa” cộng sản phải xấu
hổ với TQAN: Nguyễn Gia Kiểng làm công việc này
một cách kinh điển. Ông kết hợp sự quan sát
nhạy bén của ḿnh về đời sống tâm lư chính
trị của người Việt với Tứ thư,
Ngũ kinh trong một phong cách rất độc đáo. Hăy
thử đọc một vài đoạn:
Trí thức Việt Nam ngày nay là
hậu thân của giai cấp sĩ phu ngày
trước...Kẻ sĩ vẫn c̣n là mẫu mực
của rất nhiều trí thức Việt Nam...Nhưng
kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một mẫu người
tồi hèn, vong thân?...Sĩ là một nghề, nghề đi
học và nghề làm quan. Trước sau là nghề qú...
Văn hóa
Khổng Mạnh là văn hóa phủ nhận kiến
thức...
Văn hóa
Khổng Giáo c̣n để lại cho chúng ta một di
sản khác là sự vô lễ quá đáng...
Nhân trị
chỉ giản dị là độc tài cá nhân tuyệt
đối...
Chữ “lễ” của Khổng
Giáo cũng là một sự hiểu lầm...nó không có
nghĩa là sự đối xử lịch sự, bặt thiệp
trong xă hội đối với mọi người.
Về lễ, Khổng tử nói một câu kinh khủng:
“lễ không kể đến bọn thứ dân”...
Hay thế
mà tôi vẫn thấy không thuyết phục mấy. Không
phải là tôi không đồng ư với tác giả mà lư do
chính là tôi không thấy nó phục vụ một mục
đích nào thiết thực cả. Văn hóa có tính thừa
hưởng và tích lũy. Muốn hay không th́ Khổng Giáo
đă là một phần, nếu không nói là một phần
lớn của hồn tính dân tộc Việt Nam. Từ
chối hay thay đổi nó là mâu thuẫn với chính ḿnh.
Chính tác giả cũng đă nh́n nhận là việc thay
đổi văn hóa là một cố gắng lớn mà cho
đến nay chưa một dân tộc nào làm
được. Điều đó cho thấy rằng
việc nhận diện những thui chột tâm lư của
ḿnh là để biết ḿnh đang là ai mà thôi. Cây mọc
trong rừng, nếu không có đủ khoảng trống và
ánh nắng, sẽ không vươn lên thẳng đứng.
Nếu con người không có tự do th́ nhân cách của
họ sẽ bị tha hóa. Những khiếm khuyết trong
tâm lư chính trị của người Việt là hậu
quả của t́nh trạng vong thân trong một xă hội
thiếu hẳn “khoảng trống và ánh sáng” hơn là v́ triết
lư Khổng Giáo. Tôi tin vào nhân cách con người. Tôi tin
rằng trong một xă hội dân chủ tự do xây
dựng trên nền tảng của những giá trị nhân
bản và đạo đức, nhân cách con người
sẽ có khả năng tự hoàn thiện và loại
trừ những ung nhọt tâm lư như vậy, ngay cả
khi có sự hiện diện của Khổng Giáo. Quan
điểm của TQAN là phủ nhận Khổng Giáo
một cách triệt để. Tác giả cho rằng thà
không có ǵ c̣n hơn có thuốc độc. Không có ǵ th́
bạn biến mất khỏi thế giới này ngay
lập tức. Tôi thà rằng có thuốc độc, ít
nhất cũng có thể thoi thóp để có cơ may
được cứu sống trở lại. Chế
độ cộng sản đă hủy diệt tận
căn gốc tất cả những giềng mối
đạo đức của dân tộc Việt Nam và thay
vào đó một h́nh nộm trống rỗng, lố
bịch của cái gọi là “đạo đức cộng
sản”. Trạng thái “không có ǵ” đang tàn phá thể
trạng của đất nước Việt Nam. Lịch
sử cũng đă cho chúng ta một bài học quí giá:
những cố gắng chính trị đ̣i loại trừ
những giá trị truyền thống, tốt và xấu,
đều dẫn đến cực đoan. Tôi nói lư
luận của TQAN về Khổng Giáo không phục vụ
một mục đích nào thiết thực là có ư như
vậy.
TQAN cũng
quá lạc quan với sự đóng góp của kinh tế
thị trường vào việc kiến tạo nền
tảng đạo đức xă hội:
...Thật ra chúng ta đ̣i hỏi
ǵ ở con người? Chúng ta mong muốn những con
người có khả năng, chăm chỉ, lương
thiện và nhă nhặn. Tất cả những đức
tính đó một sinh hoạt kinh tế thị
trường đúng nghĩa, nhất là hoạt
động buôn bán, sẽ đem lại...có khả năng,
lương thiện, chăm chỉ th́ lên chức, lên
lương. Buôn bán mà gian trá, thô lỗ th́ mất khách và phá
sản. Kinh tế thị trường tự do cũng có
cái logic và cái đạo đức của nó. Phần
lớn những thói hư tật xấu đều có
thể khắc phục được trong ṿng một
thế hệ nếu chúng ta mau chóng có được
một nhà nước pháp trị đúng đắn, tin
tưởng vào kinh tế thị trường và khai thác
triệt để moi ưu điểm của nó.
Hăy khoan nói
đến tính khả thi của “sinh hoạt kinh tế
thị trường đúng nghĩa” và “mau chóng có
được một nhà nước pháp trị đúng
đắn” trong giai đoạn quá độ của
nền dân chủ Việt Nam. Đúng là kinh tế thị
trường sẽ có khả năng kiến tạo “chăm
chỉ, lương thiện và nhă nhặn”. Nhưng nó
không có khả năng kiến tạo những đức
tín cần thiết khác, ḷng nhân ái chẳng hạn. Thật
ra đạo đức là mối bận tâm cuối cùng của
kinh tế thị trường. Nhiều người cho
rằng chỉ cần có pháp luật là giềng mối
của tất cả các mối quan hệ, c̣n các vấn
đề đạo đức nên chỉ được
coi là những giá trị có tính cách cá nhân. Đây hoặc là
một ngộ nhận, hoặc là một thái độ quá
đề cao kinh tế thị trường tự do và
cố t́nh phủ nhận vai tṛ của những lănh vực
khác trong xă hội dân sự như tôn giáo, những tổ
chức không vụ lợi, gia đ́nh,...Trường
học ở Mỹ không có môn học đạo
đức. Nhưng nếu người Mỹ không c̣n
đi nhà thờ mỗi chủ nhật th́ xă hội của
họ đă tan ră từ lâu. Trần Trọng Kim, một
chính khách và là một học giả uyên thâm, từ hồi
đầu thế kỷ trước đă cảnh báo chúng
ta điều này. Ông nói:
...Cũng như bên Thái Tây bây
giờ ai chẳng khuynh hướng về khoa học,
thế mà họ vẫn giữ cái nền tông giáo Cơ
đốc để làm gốc. Vậy ta nay phải theo
khoa học, th́ cứ theo, nhưng ta cứ giữ lấy
cái nền Khổng Giáo, cốt lấy nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín mà tu thân và xử thế. Đời bây giờ xă
hội nào cũng cần có tâm học và khoa học,
để hai bên tương đối và tương điều
ḥa với nhau. Bên tâm học th́ chủ ở sự tiến
hóa về đường đạo lư, bên khoa học th́
chủ ở sự tiến hóa về đường trí
tuệ và đường vật chất.[v][v]
Mấy
chữ “th́ cứ theo” nghe có vẻ miễn
cưỡng, nó phần nào phản ảnh tư chất
chính trị của ông. Tôi cũng không có hứng thú ǵ
mấy với mấy chữ Nho “nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín” . Nhưng phải nh́n nhận là ông có lư.
Đọc TQAN nói về Khổng Giáo làm tôi liên tưởng
đến những ǵ những người cộng sản
đă từng nói về Thiên Chúa Giáo. (C̣n nhớ cái chữ thuốc
độc đó không?). Nếu Khổng Giáo hoàn toàn thui
chột như Nguyễn Gia Kiểng nhận định th́
xă hội phương Đông đă phải tự hủy
diệt từ lâu. Bản thân sự tồn tại của
Khổng Giáo trong mấy ngàn năm qua chứng tỏ nó
hẳn có những điều tốt đẹp khác! Đó
là những điều mà chúng ta tuyệt đối
phải gạn lọc và ǵn giữ. Chúng ta bao giờ
cũng cần phải có một nền tảng “tâm
học”, dù là Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Khổng Giáo,
hoặc vừa là Thiên Chúa Giáo vừa là Phật Giáo vừa
là Khổng Giáo vừa là Cao Đài vừa là Ḥa Hảo, hay
bất cứ một giáo lư nào.
Lúc này
nói đến việc cần phải ǵn giữ những
giá trị tốt đẹp của Khổng Giáo th́ hơn
bao giờ hết phải cảnh tỉnh lên án những âm
mưu lợi dụng Khổng Giáo dưới cái chiêu bài
văn hóa truyền thống cho mưu đồ kéo dài
nền độc tài chính trị của những
người cộng sản.
Trừ phi
triết học cổ Trung Quốc là môn học chính
của bạn, thế hệ của chúng ta coi như là
không hề biết đến Khổng Giáo. Cái mớ
kiến thức Khổng Giáo của chúng ta có lẽ cũng
chỉ đủ để tả ông bố của một
người bạn gái xinh xắn nào đó là “nho giáo” quá mà
thôi (nho không viết hoa!). Chúng ta cũng từng
mừng thầm rằng ít nhất th́ thế hệ ḿnh
không phải đối diện với cái vấn
đề nhức óc này. Chúng ta đă lầm. Cụ
Khổng nay lại hiện về lù lù ra đó. Chủ
nghĩa cộng sản ở châu Á là một chuyển
tiếp từ Khổng Giáo và phong kiến đến dân
chủ tự do. Chủ nghĩa cộng sản ra
đời trong cái khoảng trống văn hóa chính trị
khi Khổng Giáo đă tàn lụi mà các tư tưởng dân
chủ tự do chưa bén rễ. Ngày nay khi mà chủ
nghĩa cộng sản đang bế tắc, th́ Khổng
Giáo lại trở lại để thay thế vào chính cái
khoảng trống tư tưởng đó. Nỗi bất
hạnh của dân tộc Việt Nam chính là sự giam hăm
trong cái ṿng luẫn quẫn Nho–Cộng như vậy.
Sự trở lại lần này của Khổng Giáo có
một sự hỗ trợ đặc biệt của
một lớp trí thức trẻ và lương thiện. V́
lương thiện, họ không có chổ đứng trong
một xă hội mang bản chất tội ác như xă
hội cộng sản[vi][vi]. Họ t́m thấy ở Khổng
Giáo sự che chở cho trái tim lương thiện của
họ đối diện với sự tàn phá một cách
tàn bạo tâm hồn con người trong cái xă hội
nửa cộng sản và nửa kia là những thành tố
xấu xa nhất của tư bản, bán khai, và phong
kiến. Nhưng chính người cộng sản cần
Khổng Giáo hơn. Khi mà sự lố bịch của lư
luận “cách mạng vô sản và đấu tranh giai
cấp” của họ đă quá lộ liễu, những
người cộng sản đang cố gắng moi móc
ở Khổng Giáo những lư luận chính trị “cách
mạng” mới ḥng kéo dài nền độc tài chính trị
của họ[vii][vii]. Đây là một hiểm họa
mà tôi cho rằng vẫn chưa được những
người đấu tranh cho dân chủ chúng ta quan tâm
đúng mức. Nói đến Khổng Giáo mà không nói
đến điều này là một thiếu sót nguy hiểm[viii][viii]. Phủ nhận triệt
để bao giờ cũng là một việc dễ dàng, ít
nhất là trên phương diện lư luận. Nhận định rằng cộng
sản là Khổng Giáo kiểu mới là một bước
tiến trong nhận thức của lư luận chính trị
dân chủ. Nhưng v́ thế mà hoàn toàn từ chối
Khổng Giáo lại là một bước lùi, nếu không
nói là một sự biếng nhác của lư luận.
Cần
phải nói thêm, không yêu Tiếng Việt là không yêu
nước. TQAN đă dành cho Tiếng Việt một
sự trân trọng đáng quí. Tác giả c̣n đem
đến cho người đọc hàng loạt những
câu chuyện thú vị về sự vụng về của
người Việt đối với ngôn ngữ của
ḿnh. Đọc những mẩu chuyện đó,
mượn câu nói của Từ Thức, ít người
Việt nào không thấy nhột[ix][ix]. Sự yếu kém tiếng
Việt của trí thức Việt Nam th́ TQAN đă nói
nhiều, ở đây tôi xin bàn về một hệ quả
trực tiếp của sự yếu kém đó: sự nghèo
nàn của chính Tiếng Việt.
Đi
t́m sự đồng thuận giữa những thái cực
chính trị hiện nay là một việc t́m kim đáy
bể. Tuy nhiên có một vấn đề vượt lên
tất cả những bất đồng chính kiến khi
đề cập đến tương lai của dân
tộc ta, đó là Tiếng Việt. Chúng ta có một dân
tộc Việt Nam hôm nay là nhờ vào Tiếng Việt. Con
cháu của chúng ta có một dân tộc Việt Nam mai sau
cũng sẽ nhờ vào Tiếng Việt. Số phận
của dân tộc Việt Nam không thể tách rời
Tiếng Việt. Tiếng Việt c̣n th́ nước
Việt c̣n. Tiếng Việt có phát triển th́ nước
Việt mới phát triển. Sự tŕ trệ của
đất nước Việt nam hôm nay không lẽ không
phải là hệ lụy của sự nghèo nàn của
Tiếng Việt chăng ?
Mà
Tiếng Việt của chúng ta nghèo nàn thật. Thế
kỷ hai mươi chứng kiến một sự phát
triển vũ băo của nền văn minh nhân loại trên
tất cả mọi lănh vực, từ khoa học, kỹ
thuật đến văn hóa, nghệ thuật, chính
trị, triết học, tôn giáo, v.v... Thế nhưng
Tiếng Việt của chúng ta th́ giậm chân tại
chổ từ một trăm năm nay. Chúng ta cứ
đủng đỉnh ung dung là Tiếng Việt của ta
phong phú lắm. Một trăm chữ tiếng Anh mới
cưu mang nổi một câu Kiều. Điều đó
đúng. Nhưng nó chỉ nói lên tính độc đáo
của Tiếng Việt, chứ không chứng minh được
là ngôn ngữ của ta phong phú. Những trí thức Việt
Nam đă đến học tập tại các viện
đại học ở nước ngoài không thể không xót xa khi
đến thăm những thư viện quốc gia hay
những nhà sách lớn của chúng ta. Chúng chứng minh
một cách tàn nhẫn cho sự nghèo nàn của Tiếng
Việt. Tiếng Việt hiện nay chuyên chở
được bao nhiêu kiến thức của nhân loại
? Trên thực tế, câu trả lời là “quá ít ỏi”, mà lư
do không ngoài sự giới hạn của chính nó.
Điều này được xác nhận bởi nhiều
trí thức Việt Nam. Phải dịch hay viết một
cuốn sách về ngành học của ḿnh bằng Tiếng
Việt là một việc cực kỳ khó khăn. Sự
diễn đạt ư niệm từ tiếng Anh sang
tiếng Việt là một thử thách[x][x].
Những thử thách này không chỉ có trong những lănh
vực “nặng” về ngôn ngữ như khoa học xă
hội và nhân văn, mà ngay cả trong những ngành
thuần túy kỹ thuật như tin học, viễn thông.
Một hệ quả hiển nhiên là, nếu ngôn ngữ
của một lănh vực giới hạn th́ lănh vực
đó dù đầu tư đến đâu cũng không phát
triển được. Xin có hai ví dụ để minh
họa cho luận điểm này: tin học và dân chủ.
Sự
phát triển vũ băo của cuộc cách mạng công
nghệ tin học, và những nguồn lợi kinh tế
khổng lồ mà nó đem lại, trong thập niên vừa
qua gây nên một sự quan tâm đặc biệt trong
những người lănh đạo quốc gia cũng
như giới học sinh, sinh viên của chúng ta. Một
nhận định đúng đắn được nêu ra
cho đây là cơ hội lớn giúp chúng ta ḥa ḿnh vào trào
lưu toàn cầu hóa của nền kinh tế thế
giới. Đây cũng là điều đúng đắn duy
nhất! Nghị định này đến nghị
định khác từ phía chính phủ “ban ra”, khuyến khích
các cơ quan nhà nước đưa ứng dụng
của điện toán vào trong công việc quản lư, ưu
tiên các nhà đầu tư vào công nghệ thông tin,...Họ
c̣n đi xa hơn, trong hoàn cảnh thắt lưng buộc
bụng này, tung ra một khoản tiền 70 triệu đô
la Mỹ cho các công ty tham vấn của Ấn độ
để đào tạo “đủ nhân lực lao
động cho xuất khẩu phần mềm”[xi][xi]. (Bao nhiêu trong số 70 triệu
đô la này thực sự phục vụ cho mục đích
đào tạo là một đề tài khác cho một dịp
khác). Về phía các trí thức trẻ, ḷng nhiệt t́nh
cũng không kém. Cái mốt thời thượng nhất
hiện nay trong giới sinh viên là tạo cho ḿnh một
website trên liên mạng. (Có người cho rằng đó là
phản ứng vươn tới tự do ngôn luận.
Không sai, nhưng cũng không kém phần khiên cưỡng.
Thật ra cái thú làm tin học hấp dẫn họ hơn).
Tin học Việt Nam vẫn c̣n trong giai đoạn phôi
thai. Triển vọng, nếu
đi đúng hướng, sẽ rất lớn trong
tương lai. Nhưng lúc này, mặc dầu có những
cố gắng và quyết tâm lớn, ngành công nghệ tin
học vẫn giậm chân tại chổ trong vài năm qua.
Người ta viện dẫn nhiều lư do. Nhưng có
một lư do quan trọng nhiều người biết
nhưng không mấy ai quan tâm: Tiếng Việt chưa
đủ trưởng thành để chuyển tải
kiến thức tin học. Phần lớn sách vở
về tin học bằng tiếng Việt chỉ chú
trọng vào yếu tố ứng dụng (Microsoft Office, CAD,
Web,...) mà thiếu hẳn những kiến thức lư
thuyết nền tảng. Tin học, khác hẳn với
những công nghệ khác như luyện thép hay may mặc,
là một công nghệ của tư duy. Lao động tin
học là lao động tư duy. Kiến thức lư
thuyết căn bản và tự do tư tưởng là
vốn liếng quan trọng nhất của một
người lao động tin học. (Tự do tư
tưởng là yếu tố chỉ có thể có được
ở dân chủ. Nói một cách khác, công nghệ tin học
không thể phát triển dưới chế độ
độc tài chính trị. Đó là một đề tài khác
cho một dịp khác). Trở ngại lớn là những
kiến thức này thay đổi không ngừng. Một
người lao động tin học cần phải luôn
luôn cập nhất kiến thức của ḿnh nếu không
muốn bị đào thải. Và lúc này anh ta phải làm
việc đó không phải bằng tiếng mẹ
đẻ. Tên thuốc có thể không cần dịch sang
tiếng Việt. Nhưng nếu kiến thức tin
học không được chuyển ngữ sang tiếng
Việt th́ là một trở ngại lớn cho việc phát
triển công nghệ tin
học. Hay nói một cách khác, chừng nào Tiếng Việt
c̣n chưa trưởng thành đủ để chuyển
tải kiến thức tin học th́ chừng đó tin
học Việt Nam vẫn c̣n phải chậm hơn
người ta vài bước, cũng như nền dân
chủ vậy.
Công
cuộc vận động cho dân chủ tự do
đến nay đă hơn hai mươi năm với
nhiều hy sinh, vâng, cả máu và nước mắt. Trong
đoạn đường lịch sử này, dân chủ
đă là lựa chọn tất yếu cho xă hội phát
triển. Không có con đường khác nếu không muốn
trả một giá đắt hơn. Khối cộng
sản thế giới đă sụp đổ, đem theo
cái ảo vọng của việc khám phá ra con
đường khác đó. Cộng sản Việt Nam
chỉ c̣n là một cái vỏ trống của ngụy
biện. Tại sao chúng ta vẫn chưa có dân chủ?
Nguyễn Gia Kiểng cho rằng lư do chính yếu nằm
trong yếu tố văn hóa thui chột của Khổng
giáo trong chúng ta. Điếu đó xác đáng, nhưng
lại chỉ là điều kiện cần. Dân chủ
trước hết là một phương tiện,
phương tiện hữu hiệu nhất, để
đi đến tự do, công bằng, và bác ái. Dân chủ
là kết quả của thực nghiệm, và do đó là
một khám phá của trí tuệ. Chúng ta đang nói đến
kiến thức chứ không phải tâm lư. Kiến thức
về dân chủ chính là điều kiện đủ.
Có
một điều tôi xin nói ngay để tránh những
ngộ nhận không cần thiết khi đề cập
đến kiến thức dân chủ. Những
người cộng sản, và ngay cả một số
những người đang đấu tranh cho dân chủ,
cho rằng tŕnh độ dân trí của người
Việt Nam chưa thích hợp cho việc xây dựng chính
trị dân chủ. Do đó, chúng ta, để tránh hỗn
loạn, cần “ổn định để phát triển
kinh tế” trước cho đến khi người dân
cơm no áo ấm, có kiến thức dân chủ rồi
mới nói đến dân chủ. Cho rằng một
người nào đó chưa có đủ tŕnh độ dân
trí để xứng đáng với dân chủ th́ không khác
ǵ cho rằng họ không xứng đáng để làm
chủ cuộc đời của chính họ. Tính ngụy
biện của luận điểm này đă bị phản
luận một cách thuyết phục và hùng hồn trong TQAN.
Tôi thấy không cần phải nói thêm. Chúng ta cần dân
chủ, và cần nó ngay bây giờ.
Xin
trở lại vấn đề kiến thức dân
chủ. Chủ nghĩa cộng sản đă thống
trị trên đất nước Việt Nam một
thời gian dài. Trên thực tế một lớp trí
thức trẻ, bao gồm thế hệ của chúng ta,
đă trưởng thành với một nền giáo dục mà
trong đó dân chủ, nhân quyền, pháp trị là những
khái niệm vừa xa lạ vừa ngoại lai. Chúng ta
chứng kiến sự mục ruỗng của chủ
nghĩa cộng sản với một thái độ
bất động. Bất động, v́ chúng ta vẫn chưa
tin vào tính tất yếu của dân chủ tự do. Chưa
tin v́ chúng ta chưa có đầy đủ kiến thức
về dân chủ. Chưa có kiến thức dân chủ v́
Tiếng Việt của chúng ta vẫn chưa diễn
đạt khái niệm này một cách khoáng đạt,
đầy đủ, và thích hợp[xii][xii]. Có bao nhiêu trang sách bằng
tiếng Việt bàn đến dân chủ một cách nghiêm
túc, kiên nhẫn, và lương thiện[xiii][xiii]? Điều này không những
đă quan trọng trong quá tŕnh vận động dân
chủ hiện nay mà c̣n là điều tối cần
thiết khi mà nền dân chủ bắt đầu thành h́nh.
Khả năng chuyển tải kiến thức dân chủ
của Tiếng Việt có tính quyết định trong
việc thành công hay thất bại của công cuộc xây
dựng dân chủ. Dân chủ, như đă nói ở trên, là
kết quả của thực nghiệm chính trị.
Nhưng áp dụng những nguyên tắc dân chủ vào
điều kiện của mỗi quốc gia lại là
sự bắt đầu của một thực nghiệm
khác đ̣i hỏi ngôn ngữ phải trưởng thành
để đáp ứng một tŕnh độ lư luận
nhất định. Người ta thường đổ
lỗi cho tŕnh độ dân trí về t́nh trạng hỗn
loạn tại các quốc gia có một nền dân chủ
phôi thai. Nhưng nếu quan sát kỹ th́ chúng ta có thể thấy
rằng cái gọi là sự hỗn loạn này thật ra
chỉ là t́nh trạng đục nước béo c̣ của
một số tổ chức chính trị thiếu lương
thiện, nhất là những tổ chức hậu thân
của đảng cộng sản, trong một bối
cảnh lúng túng của lư luận chính trị dân chủ.
Theo Nguyễn Gia Kiểng, đồng thuận về ngôn
ngữ là điều kiện tiên quyết cho sự phát
triển lư luận chính trị. Tôi tin chắc ông nói
điều này xuất phát từ kinh nghiệm.
Trách
nhiệm phát triển Tiếng Việt thuộc về ai
nếu không phải là của trí thức Việt Nam.
Đổ trách nhiệm cho người khác là một
việc quá thuận tiện và dễ dăi. Có một
điều không c̣n ngạc nhiên đối với chúng ta
nữa là trí thức Việt Nam không có thói quen làm sách.
Chuyện viết sách, dịch sách vẫn là chuyện
thuộc về quyền hạn của một số
nhỏ xa lạ. Nguyễn Gia Kiểng rất đúng khi cho
rằng chúng ta vô lễ với Tiếng Việt. Ít ra th́
chúng ta không dành cho Tiếng Việt một sự trân
trọng xứng đáng. Tôi nhớ đến một câu
chuyện cũ, xin góp thêm vào trong những giai thoại
của TQAN. Một anh bạn của thầy học tôi đi
du học bên Nga về đem theo một cuốn sách toán mà
anh ta nói là rất hay. Nhiều người ṭ ṃ hỏi, sao
hay thế mà anh không dịch ra tiếng Việt cho nhiều
người cùng đọc? Anh ta hững hờ đáp:
tiếng Việt ḿnh không đủ để dịch. Có
thể hiểu là vốn liếng tiếng Việt của
anh ta nghèo nàn. Cũng có thể hiểu là Tiếng Việt
không đủ để diễn đạt nhưng khái
niệm trừu tượng của toán học hiện
đại. Nhưng không thể chối căi là sự cố
gắng để hoàn thiện vốn liếng ngôn ngữ
mẹ đẻ của ḿnh hoàn toàn thiếu vắng trong ư
thức của anh ta. Anh ta không cô đơn. Trong
đầu của phần lớn người Việt trí
thức ai cũng có cái lỗ hổng xấu xí đó.
Cứu
nước không phải bao giờ cũng là câu chuyện
của hy sinh, của ḷng dũng cảm, của gươm
giáo, của tù tội, của xương máu. Hàng
động chính yếu của việc cứu nước
là mỗi người làm một việc nhỏ tùy theo
sức ḿnh, để rồi những công việc nhỏ
bé đó hợp thành một sức mạnh tổng thể
xoay đổi vận mệnh của quốc gia. Chúng ta có
khoảng nửa triệu trí thức, cả trong lẫn
ngoài nước. Nếu mỗi người chỉ cần
dịch hay viết một chương sách, th́ Tiếng
Việt sẽ có năm mươi ngàn cuốn sách,
đủ để chuyên chở một phần kiến
thức quan trọng của nền văn minh nhân loại.
Chưa làm được điều đó th́ hăy khoan nói
đến chuyện bằng người.
Trong
tất cả những vấn đề liên quan đến
tương lai của đất nước Việt Nam,
cùng với ḷng yêu nước, Tiếng Việt là một
trong những vấn đề bức xúc nhất. Việc
xây dựng một xă hội dân chủ và tiên tiến
phải được kết hợp với việc phát
triển Tiếng Việt để nó có khả năng
chuyển tải những khái niệm này. Việc phát
triển Tiếng Việt đi trước. Biến
Tiếng Việt thành một ngôn ngữ cho mọi lănh
vực là một cố gắng để tự hoàn
thiện chính ḿnh[xiv][xiv]. Cố gắng đó phải
được bắt đầu bởi mỗi
người Việt chúng ta ngay lúc này.
Tôi có
cảm giác rằng TQAN bị ám ảnh quá lớn với
sự “không có đóng góp ǵ” của dân tộc Việt Nam cho
nền văn minh nhân loại. Chúng ta không có đền
đài kiến trúc ǵ đáng kể. Văn chương bác
học, th́ ngoài tính sắc xảo của ngôn ngữ,
phần c̣n lại không có ǵ đáng để so sánh.
Triết học, chính trị chỉ là những sao chép
đau ḷng. Cái quốc sản duy nhất có lẽ chỉ là
khối thi ca dân gian và truyền thuyết. Nhưng số
tài sản này cũng chỉ đủ để nhận
dạng và nuôi sống chính ḿnh thôi chứ không thể nói là
đóng góp ǵ. Thường khi ḿnh thừa hưởng
nhiều mà không trả lại bao nhiêu th́ sự áy náy là
điều không tránh khỏi. Nó chứng tỏ ḿnh
lương thiện. Nhưng không cần phải khổ
tâm như thế.
Tôi
cho rằng sự đóng góp lớn nhất của một
người cho cuộc đời là sống một
cuộc sống b́nh thường, nhân ái, và lương
thiện. Nếu anh không là gánh nặng cho những
người xung quanh, th́ anh đă thành công một nửa.
Một nửa kia là t́nh yêu thương, sự chia sẻ và
ḷng khiêm tốn. Tất cả những đóng góp khác,
nếu có, như một công tŕnh khoa học, một
tuyệt tác nghệ thuật, một cơ sở doanh
nghiệp,... chỉ là kết quả của ḷng khiêm
tốn và tài năng thiên phú mà thôi. Đối với
đời sống của một dân tộc cũng
vậy. Nếu dân tộc đó không là gánh nặng cho
những dân tộc khác, dù là gánh nặng kinh tế như
viện trợ, vay mượn hay gánh nặng lương
tâm như đàn áp nhau, giết chóc nhau, nếu dân tộc
đó đồng hành với những dân tộc khác, nói
chung nếu dân tộc đó có một cuộc sống b́nh
thường, th́ đă là một đóng góp lớn cho
nền văn minh rồi.
Nhưng dân
tộc Việt Nam đang có một cuộc sống không
b́nh thường, và đang là gánh nặng của thế
giới.
Cuộc hành
tŕnh của nhân loại vẫn là cố gắng vươn
tới tự do, b́nh đẳng, và bác ái. Đó là một
cuộc hành tŕnh của những thử nghiệm
đầy xương máu. Những dân tộc khôn ngoan
nhất là những dân tộc đi đến đích
với một giá rẻ nhất. Đoạn
đường trước mặt là dân chủ tự do
mà nhân loại phải trả bằng máu và nước
mắt, trong đó có máu và nước mắt của dân
tộc Việt Nam, trong hai thế kỷ qua mới t́m
thấy. Những con đường khác hoặc dài hơn,
hoặc phải trả giá cao hơn, hoặc vừa dài
hơn vừa phải trả giá cao hơn. Chủ nghĩa
cộng sản là một cuộc thử nghiệm lớn
và tốn kém, một cuộc thử nghiệm thất
bại. Sinh lực của dân tộc Việt Nam đă
cạn kiệt trong cuộc thử nghiệm đó.
Tiếp tục cuộc thử nghiệm và từ chối
con đường dân chủ tự do là không thiện chí
hoặc không lương thiện, hoặc vừa không
thiện chí vừa không lương thiện, nói chung là
một tội ác.
Viết
về những đề tài của TQAN th́ không thể có
kết thúc. Tôi mượn một giai thoại trong TQAN
để chào các bạn vậy:
...Tauriac
quả thật hết ḷng với Việt Nam, ông làm tất
cả những ǵ có thể làm cho Việt Nam và h́nh như
không bao giờ biết chán nản là ǵ. [Trong một bữa
cơm tối với Tauriac và Nguyễn Mạnh Hùng], có lúc
ông (Tauriac) buột miệng than: “Chế độ cộng
sản Việt Nam chẳng mạnh ǵ, vấn đề là
người Việt Nam không có ư chí đấu tranh ǵ
cả, người ta có cảm tưởng đó là
một đàn cừu”...Th́ ra ông cũng thất vọng.
Cả Nguyễn Mạnh Hùng và tôi đều ngượng,
nhưng đó là một sự thực mà chúng tôi không
thể phản đối. Ư chí tranh đấu của chúng
ta c̣n kém cả các dân tộc châu Phi...Tôi chỉ biết
giải thích cho Tauriac rằng người Việt không hèn
nhát, vấn đề là họ đă quá thất vọng
với đất nước Việt Nam và đă mất đi
ḷng yêu nước...
Thiết tưởng khi
người ta cho ḿnh hèn đó lại là một dằn
vặt khác.
Trần Trung Việt
Hè 2001
[i][i] Phỏng theo ư của một câu chữ Nho quen thuộc, “Quốc gia
hưng vong, thất phu hữu trách”.
[ii][ii] “Ta dại ta t́m nơi vắng vẻ” – Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB
Đồng Nai 2000.
[iii][iii] Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Đồng Nai
2000.
[iv][iv] Lời tác giả - TQAN, B́a sau.
[v][v] Trả lời Phan Khôi – Trần Trọng Kim, Nho
Giáo, Quyễn Hạ, Phụ lục, trang 433 – Trung Tâm
Học Liệu Xuất Bản, 1971.
[vi][vi] “Chủ nghĩa cộng sản có bản
chất tội ác” - Nguyễn
Gia Kiểng, Đừng để lịch sử lặp
lại – Thông Luận, số 137.
[vii][vii] Đọc diễn văn khai mạc lễ
kỷ niệm 2540 ngày sinh của Khổng tử, tháng 10
năm 1989, của Gu Mu, kiến trúc sư của chính sách
cải tổ kinh tế của Deng Xiaoping.
[viii][viii] TQAN có một chương bàn về vấn
đề “các giá trị châu Á”, một cuộc tranh luận
ồn ào hồi giữa những năm 90 mà nội dung
chính là tính phổ quát của khái niệm dân chủ và nhân
quyền. “Các giá trị châu
Á”, theo tôi, chỉ là mặt ngoài của một vấn
đề khác rắc rối hơn: lư luận chính trị
phản dân chủ không dựa vào lư thuyết cộng
sản mà dựa vào ngụy biện và ḷng tự ái, một
vấn đề không c̣n là tranh luận mà đă là một
thực tế ở Trung Quốc và Việt Nam.
[ix][ix] Từ Thức – TQAN, Tiếng Nói Của Một
Người Không Phải Đạo – Thế Kỷ 21,
Số 146.
[x][x] Nguyễn Hữu Liêm – Dân Chủ Pháp Trị, trang
25.
[xi][xi] Theo Diễn Đàn Tin Học.
[xii][xii] Như: dân chủ là người dân làm chủ,
điều mà người Việt nghe đă quá quen tai.
[xiii][xiii] Khi viết những điều này tôi thấy
cũng nên cáo lỗi với một số tác giả và tác
phẩm đă đóng góp nhiều cho lănh vực này, trong
đó có chính TQAN. Tuy nhiên chúng ta phải nh́n nhận rằng
những cố gắng này vẫn chỉ là muối bỏ
biễn.
[xiv][xiv] Nguyễn Hữu Liêm, trích John T. McAlister – Dân
Chủ Pháp Trị.
|
Other Sponsors electrical connectors, Mangosteen Juice, real estate short sale, Jupiter FL real estate, |
Furniture Markdown Great Deals on furniture - Free Shipping! |
Y-Net Wireless Internet Denver area high speed wireless privider. |
|
|
Dog House Technologies Doghouse Techonologies is located in Tampa Bay FL and offer professional web design, ecommerce development and custom application design for the internet. |
|||