Tư cách chính thống của trí thức Việt Nam
Phạm Thị Hoài

Kỳ 1


(Lời Ṭa soạn Cánh Én:

Bài viết dưới đây của nhà văn Phạm Thị Hoài - diễn giả chính trong cuộc toạ đàm tại Berlin vào tháng 10-2000. Do ghi lại từ băng ghi âm nên có thể có thiếu sót, rất mong tác giả và độc giả lượng thứ. Được sự đồng ư của nhà văn Phạm Thị Hoài, Cánh Én xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc của ḿnh. Do khuôn khổ tờ báo số trang có hạn, bài viết quá dài, chúng tôi buộc phải đăng thành 2 kỳ.)

Thưa các bác, các anh, các chị:

Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây rất đơn giản và tôi xin những vị có ư chờ đợi ở một nhà văn những tư tưởng rất cao siêu, phức tạp thể tất chọ

Tất nhiên là tất cả các vấn đề của hiện thực Việt Nam đều rất phức tạp. Nhưng tôi nghĩ rằng: Cái cách mà dễ dàng nhất, cái cách mà láu lỉnh nhất để khỏi phải đối mặt với cái hiện thực này chính là làm cho nó phức tạp hơn bản thân nó. Mà văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam có một căn bệnh trầm kha là: khi sự vật dường như không thể giải quyết nổi theo các tiêu chí của nho giáo, hiệp sĩ hay chiến sĩ th́ nó lập tức được nh́n theo nhăn quang của phương sĩ, hay đạo sĩ và đấy là một thứ nhăn quang tất nhiên là rất vô cùng thú vị và vô cùng phức tạp. Thú vị và phức tạp tới cái mức nó cho phép người ta có thể mải mê trong chính nó, và bản thân cái hiện thực chỉ là cái cớ rất là phụ. Nhưng chúng ta sẽ trở lại cái hiện thực này ở một đoạn sau và bây giờ tôi chỉ xin nói trước là: trong buổi tối hôm nay chúng ta sẽ cố gắng giản dị và sáng tỏ trong suy nghĩ của ḿnh.

Xuất phát điểm của vấn đề mà tôi muốn đặt ra cũng rất là giản dị, trước sau ít nhất là 2000 năm, có một dân tộc Việt, một văn hoá Việt, một quốc gia Việt và sau ít nhất là 200 năm có một lănh thổ Việt như ngày nay, th́ nước ta vẫn là một nước nghèo và lạc hậu vào hạng nhất thế giớị Nhưng vấn đề không phải chỉ là ở chỗ nghèo và lạc hậu, nếu chỉ có như vậy th́ tôi c̣n chưa thấy có ǵ là đáng sợ lắm. Cái vấn đề, một là ở chỗ là chưa bao giờ chúng ta như thế. Từ khi tôi sinh ra đă là như vậỵ Từ khi cha mẹ, ông bà tôi sinh ra đă là như vậỵ Từ khi các cụ tôi sinh ra cũng là như vậỵ Khi các kỵ tôi sinh ra th́ thế giới lúc đó chỉ là Trung Hoa và Ấn Độ thôi, nhưng bảng xếp th́ vẫn thế không có ǵ thay đổi cả. Nước Hy Lạp chẳng hạn là một nước hiện nay đang nghèo nhất cộng đồng Châu Âu, nhưng không phải bao giờ cũng thế. Nước Nga cũng đang vô cùng bê bối, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chỉ có nước Việt là chưa bao giờ như thế mà thôị Tôi thậm chí không dám nghĩ tiếp rằng là khi cháu tôi hoặc chắt tôi sinh ra th́ chúng ta vẫn không thoát được cái kiếp đội sổ như vậỵ Sở dĩ tôi phải nói hơi dài về vấn đề này v́ nó là một yếu tố quan trọng trong việc h́nh thành tính cách rồi tư cách của người Việt nói chung và người trí thức Việt nói riêng. Ta hăy h́nh dung, nếumột anh học tṛ đi học trong cả suốt cuộc đời của ḿnh không bao giờ không đứng cuối lớp, nó là một cái "dớt" không thay đổi, th́ đến một lúc nào đó ư chí phấn đấu của anh ta (nếu như anh ta có một ư chí) cũng phải tiêu tan. Thứ hai nữa, là nếu mà câu chuyện chỉ dừng lại ở một nước nghèo và lạc hậu mà thôi, th́ tôi cho rằng tất nhiên vẫn là một câu chuỵện buồn nhưng chưa đến nỗi bi đát và vô vọng bởi v́ chỗ này, tôi cũng xin nói thẳng là chúng ta đang sống ở một nước không nghèo và không lạc hậu tí nào là nước Đức. Chúng ta có thể nói rằng sự giàu có và văn minh tiến bộ cũng đẻ ra nỗi sầu rất đặc trưng của nó, chứ không phải chỉ có riêng nghèo và những điều bi đát lạc hậụ mà chúng ta vẫn thấy là thưồng xuyên có những công dân của cái thế giới văn minh và giầu có này t́m cách giải toả những nỗi sầu của ḿnh bằng cách giải toả tất cả những cái bi kịch của sự thừa thăi của vật chất cũng như là sự tiến bộ với một cái tốc độ rất là nhanh chóng của cái xă hội hiện đại của họ bằng cách là t́m về những cái xă hội c̣n mông muội, c̣n văn khai c̣n nghèo khó và coi đó là những câu trả lời nhất định, là một cái thứ (?...) tất nhiên là chúng ta có thể mỉm cười và có thể coi đó là một cái thứ lăng mạn, một cái căn bệnh quí phái, nhưng mà chúng ta không thể bác bỏ nó đựơc, chỉ có điều là hiện thực Việt Nam thậm chí không phải là cái chỗ thích hợp để cái thế giới thứ nhất đó chữa chạy những cái căn bệnh quí phái của ḿnh bởi v́ ngoài cái nghèo và lạc hậu, th́ đến đầu thế kỷ 21 này xă hội Việt Nam c̣n là chỗ hội tụ của những dịch bệnh nhường như vô phương cứu chữa khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm. Đối với tôi, tôi đặt tên khái niệm đó là sự bất an. Với tôi một nhà văn th́ đương nhiên sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối quan tâm chính. Theo cách nh́n của tôi, th́ sức mạnh của một xă hội là khả năng đem lại cho các thành viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất định, người ta có thể nghèo nhưng nếu mà người ta có được một cảm giác an tâm nhất định, điều đó quan trọng hơn. Nếu không có cảm giác ấy th́ người ta chỉ có thể miễn cưỡng sống tạm cuộc đời của ḿnh và đương nhiên không có một động cơ nào đủ mạnh để sống tiếp cuộc đời của những thế hệ trước, sống trước cuộc đời của những thế hệ sau và sống chung cuộc đời của những kẻ cùng thời. Nói như thế th́ xă hội Việt Nam là một tập hợp tạm bợ, rời rạc và hoàn toàn không hữu cơ. Có những cá nhân hoang mang và bất ổn. Về xuất phát điểm là như vậy, vấn đề đặt ra là trong cái số phận dường như là vĩnh viễn hẩm hưu đó của ta (?..) th́ người trí thức tham dự như thế nàỏ Nói một cách khoa trương và có lẽ là tương đối sáo th́ người trí thức Việt Nam chịu trách nhiệm ǵ về cái số phận chung ấy của cả một dân tộc. Cho đến nay, chúng ta đă nghe, có thể là đă nghe đến thuộc ḷng rồi, những lời đáp vô cùng rơ ràng về cái việc này 'Việc v́ ai ? do ai ?' mà nước ta đáng buồn như vậỵ Có hai câu trả lời rơ như ban ngày: Một là do khách quan, hai là do chủ quan.

"Thằng khách quan", tôi phải xin lỗi là phải dùng tờ như vậy. Bởi v́ trong tiếng Việt th́ kẻ có tội rất to như thế phải bị gọi là thằng. Thằng khách quan nó có vô số cái hoá thân và điều kiện gọi tên rất rành mạch, lúc th́ đó là thằng lịch sử, lúc th́ đó là thằng bối cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng t́nh h́nh chung, lúc th́ đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù địch, thằng đế quốc, thằng thiên tai địch hoạ. Nếu mà nghe như vậy th́ người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta cả. Như vậy th́ chả có lư do ǵ hy vọng và chả có một cuộc toạ đàm nào cần thiết nữa cả. Và nếu có ai mà tin vào những lời tiên đoán của ông giáo sư Thover và ông giáo sư Haustinton, trong cuốn sách cách đây mấy năm rầm rộ là cuốn Cuộc Chiến Văn Hóa rằng Việt Nam sẽ là địa bàn xung đột để Chiến tranh Thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ xẩy ra th́ quả nhiên là chúng ta đáng tuyệt vọng hoàn toàn.

Về chủ quan, người Việt Nam không có truyền thống đem cả một dân tộc ra mà tự phê b́nh. Một trong những lư do v́ sao lại làm như vậỷ Cũng là ở chỗ khi người ta khi người ta đă suốt cả một số phận luôn luôn là đội sổ rồi th́ ḷng tự tin chẳng c̣n ǵ là lớn lắm. Đấy là tôi muốn nói đến một ḷng tự tin thực sự, chứ không phải là cái thứ tin theo kiểu (vừa đánh vơ mồm vừa run trong ḷng), hoặc là thứ tự tin lưu manh, cứ kích nhau lên để nhằm vụ lợi cho ḿnh. Rơ ràng là tự phê b́nh đ̣i hỏi một cái ḷng tự tin lớn. Tôi cứ nh́n cái cách tự tra vấn ḿnh, tự hành hạ, tự truy tội, tự xỉ vả ḿnh của một dân tộc như dân tộc Đức này mà phải nhận ra rằng: Đó là một dân tộc đă đạt được nhiều thành tựu đến mức nào mới làm cái việc cũng rất ư là quư phái là tự phê b́nh ḿnh như vậỵ Như vậy th́ dân tộc Việt trọn gói th́ không có lỗi ǵ đáng kể, nhưng một bộ phận, một bộ phận đầu sỏ của nó th́ bao giờ cũng luôn luôn là đầu mối của mọi tai họa, bộ phận đó như chúng ta được thường xuyên nghe nói, bao giờ cũng là chính quyền, là lực lượng thống trị. Lúc th́ là 'chính quyền Bắc thuộc', lúc th́ là 'vua quan nhà Nguyễn chịu trách nhiệm', lúc th́ 'chính quyền thực dân Pháp chịu trách nhiệm', lúc th́ là 'bè lũ lính Ngụư và bây giờ không có chính quyền nào khác hơn là chính quyền Cộng sản, th́ chính quyền Cộng sản chịu trách nhiệm. Bảo đúng th́ tất nhiên là đúng. Nhưng như vậy có kỳ cục lắm hay không, chẳng lẽ nạn đói triền miên năm 1945 xẩy ra là do phong kiến thực dân, c̣n bây giờ nạn đói xẩy ra là do Cộng sản hay sao, chẳng lẽ cái thói chạy chọt, vây cánh, cửâ quan, cửa quyền, bợ đỡ... rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất Tố cũng tại Cộng sản hay saỏ Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả một thế kỷ 15 chỉ được một ông Nguyễn Trăi, cả một thế kỷ 16 hầu như toàn là nhạt nhẽo và trung b́nh cả th́ cũng tại Cộng sản hay saỏ Một trong những nhà phê b́nh văn học sắc xảo nhất của Việt Nam ở hải ngoại, anh Nguyễn Hưng Quốc, hiện là giảng viên của trường Đại học Victoria tại Úc, cách đây 10 năm có viết một cuốn sách nhan đề là Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản. Trong đó anh đi t́m câu giải thích cho t́nh trạng kém cỏi tẻ nhạt của văn học miền Bắc. Trong những vấn đề của chế độ Xă hội chủ nghĩa và hệ thống lư luận Mác-xít. Điều đó tất nhiên là có nhiều phần đúng, nhưng chưa đủ, những năm sau này anh Nguyễn Hưng Quốc đi đến một nhận xét hết sức khổ tâm là văn học Việt Nam ở Hải ngoại tồn tại ở các chế độ dân chủ, tự do hoàn toàn không hề dính líu ǵ đến hệ lư luận Mác-xít, hệ kiểm duyệt Cộng sản, hoàn toàn không có liên quan ǵ đến bộ máy tuyên truyền chính trị chính thống, nhưng cái văn học ấy không khá ǵ hơn tŕ trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt. Tất nhiên là tẻ nhạt theo một kiểu khác. Vậy lời đáp nằm ở đâu ?

Việc phê phán cái xă hội nghèo đói, loạn tặc, nhiễu nhương, tạm bợ, không có phương hướng ở Việt Nam, tất nhiên gắn tới việc phê b́nh chính quyền lănh đạo. Thế vậy cái xă hội của người Việt ở ngoài nước, tại cộng đồng Hải ngoại không có mặt sự lănh đạo của chính quyền Cộng sản mà cũng đủ những phẩm tính tương tự th́ chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào ? Rơ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá Việt Nam, những vấn đề nghiêm trọng không thể qui vào một chính thể, tập đoàn hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả số phận dân tộc Việt Nam, bắt đầu thậm trí từ Lạc Long Quân, nếu như có ông ấy và bà Âu Cơ và nếu đă mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét th́ có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đă gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam. Bản thân tôi không dám làm cái việc là: điều tra số phận dân tộc, đi t́m 'tướng' cái phần dính líu của cá nhân. Người Việt trí thức hay không trí thức th́ cũng thế thôi. Nói chung nhiệm vụ nhà văn của tôi là không phải đổ trách nhiệm cho ai cả. Vả lại, trong bất kỳ t́nh huống th́ việc trả lời ai có tội, ai có lỗi là không thể giải đáp trọn vẹn được. nhưng mà việc tất yếu mà một nhà văn phải làm ở thời nào cũng thế là khám phá và nếu có thể là khám phá những khía cạnh mà anh ta cho rằng c̣n mờ khuất của con người và cuộc đời. Nhưng không một nhà văn nào khi làm việc đó mà có thể ôm đồm cả thế gian mà quan sát và khám phá được. Bản thân tôi là do gia đ́nh và môi trường sáng tạo, môi trường sống môi trường sáng tác, môi trường làm việc nên không thể nào làm một việc ǵ khác hơn là quan sát và khám phá giới trí thức.Tôi không có thẩm quyền ǵ để có thể phát biểu, chẳng hạn về tư cách của người nông dân hay thợ thuyền Việt Nam cả. Tôi không có một hiểu biết ǵ đáng kể về những điều đó. Song giới trí thức Việt Nam là chủ đề của hầu hết các sáng tác của tôị V́ vậy mà có một buổi nói chuyện như thế nàỵ Tôi không nghĩ rằng ḿnh có thể vạch ra được một đường hướng nào. Việc chung nhất mà tôi có thể thử làm là khắc hoạ diện mạo của giới trí thức Việt Nam. Bản thân cái việc này là một đề tài mà một cá nhân không thể nào kham nổị Hôm nay tôi thử tŕnh bày về hai tư cách, mà theo tôi là đáng để ư, đó là: "Tư cách chính thống" và "Tư cách học tṛ".

Bây giờ phải xin nói trước để chúng ta có thể dễ đồng ư với nhau về khái niệm là một định nghĩa hoàn hảo về trí thức rơ ràng là không thể có được, ngay cả với những hoàn cảnh c̣n tương đối dễ bao quát như hoàn cảnh Việt Nam. Chúng ta tạm quy ước với nhau là khi nói tới giới trí thức Việt Nam ở đây là nói tới những người mà do học thức tŕnh độ, môi trường sống, thói quen hoặc thậm chí do ngẫu nhiên cũng được, mà hoạt động trí tuệ và tinh thần là thường trực, chủ yếu hoặc đóng vai tṛ đáng kể.

Bây giờ tôi xin nói về tư cách Chính thống của trí thức Việt Nam.

Một người bạn vong niên của tôi ở Hà Nội, ông Nguyễn Kiến Giang, gần đây có đưa ra một khái niệm là "Tính cách pḥ chính thống của trí thức Việt Nam". Tôi th́ gọi đó là tư cách quan văn, theo cái mô h́nh trị nước là một ông vua có thể u mê, có thể anh minh hai bên tả hữu là quan văn và quan vơ. Tôi gọi tư cách chính thống của trí thức Việt Nam này là "Tư cách quan văn". Chúng ta hăy xem lại lịch sử, nếu như bỏ qua cái thời kỳ mông muội khi người săn bắt giỏi nhất, bắt cá khéo nhất, thắng nhiều cuộc vật nhất và có thể có nhiều con nhất bởi v́ được nhiều đàn bà ái mộ nhất; một người như thế được đứng đầu cộng đồng Việt. Nếu chúng ta bỏ qua thời kỳ đó th́ chúng ta có ngay mười mấy thế kỷ toàn trị của giới có học. Khi đó là giới sĩ, một thời gian dài là giới tu sĩ, sau đó tuyệt đối là giới nho sĩ. Chế độ khoa cử với một cái chức năng là chế độ đào tạo và tuyển chọn cán bộ nhân viên nhà nước, đă tự động ghép học thức, tri thức và quyền lực thành một cặp bài trùng. Tri thức vừa là con đường dẫn đến quyền lực và vừa là cách thực hiện quyền lực. Không có ǵ để nghi ngờ nữa là giới sĩ phu Việt Nam trong lịch sử là giới cầm quyền, hay ít nhất cũng là giới thừa hành quyền lực. Nói theo từ hiện đại là toàn bộ guồng máy nhà nước Việt Nam trong lịch sử nằm trong tay các tri thức nho giáo. Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng "Người Việt Nam hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ yêu thầy". Theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu mà chữ nghĩa mà không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan th́ cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là sẽ giảm đi đáng kể. Sau cái câu chuyện "Pḥ chính thống", câu chuyện "Quan văn" câu chuyện quan văn chỉ dừng lại khi nho học thất thế. Công bằng mà nói th́ ở một gia đoạn ngắn của lịch sử, tức là ở đầu thế kỷ 20, trong cả nước từ năm 1945, đến năm 1975 ở miền Nam có một cơ hội để cặp bài trùng tri thức và quyền lực có thể tách nhau ra được và quả thực cũng có tách nhau ra phần nàọ Nhưng đấy là một khoá học tiếc thay là rất ngắn, quá ngắn để giới trí thức Việt Nam thoát ra khỏi cái ṿng kiềm toả bằng quyền lực chính trị để trở thành một lức lượng độc lập như giới trí thức ở các xă hội dân chủ hiện đại. Chúng ta có thể coi những vận động cải cách dân trí và dân chủ ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 độc lập với cái chính quyền nửa phong kiến và nửa thực dân đương thờị Và quả nhiên có một tầng lớp trí thức văn nghệ sỹ tự do, tức là không ăn lương của nhà nước, không hưởng bổng lộc của chính quyền, không phải là các công chức, viên chức trong bộ máy cai trị. Một tầng lớp như vậy quả nhiên là có xuất hiện, điều này cũng lặp lại ở miền Nam trong khoảng từ năm 1954 đến 1975. Thế nhưng lịch sử đă quyết định diễn ra theo chiều hướng là tự lặp lại. Bi kịch của một người như Phạm Quỳnh, trí thức xuất thân hoàn toàn độc lập có đủ mọi cơ hội và đủ mọi uy tín để tồn tại như một tiếng nói, một uy tín tinh thần, một trọng lượng xă hội độc lập hẳn hoi nhưng cuối cùng cũng không vượt qua nổi sự mê hoặc của quyền lực chính thống. Tất nhiên là Phạm Quỳnh trở thành Thượng Thư Bộ Lại ở trong triều Nguyễn với một hy vọng là mượn những phương tiện chính trị để mà hành cái đạo của ḿnh. Thế nhưng, ông Tây học Phạm Quỳnh vậy là cũng hành động không khác ǵ ông Khổng Tử. Khổng Tử chả làm được điều ǵ khi c̣n đang tại chức, Khổng Tử chỉ có đánh xe đi bát phố, nghe nhạc và b́nh phẩm về đàn bà, về cách họa đàn bà là đúng hơn khi tại chức. Và Phạm Quỳnh cũng chả làm được ǵ cho cái đạo của ḿnh trong suốt thời gian làm Bộ trưởng như vậy, và Phạm Quỳnh có lẽ cũng c̣n lâu mới là người trong giới trí thức vừa ghét quyền lực và vừa phục vụ quyền lực như vậy. Từ năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam và đến năm 1975 ở trong hoàn cảnh đất nước th́ có thể nói rằng là câu chuyện của cặp bài trùng trí thức và quyền lực lại được kể tiếp với những t́nh tiết thực ra là giống hệt ở trong lịch sử. Chỉ có pha thêm những màn gay cấn đặc trưng của cái thời đại này mà thôi. Tôi cho rằng chỉ có những người rất ưa sơ đồ hóa hiện thực mới cho rằng trong xă hội cộng sản hay xă hội chủ nghĩa không có chỗ cho trí thức. Không phải như vậy nó chỉ không có chỗ cho các trí thức bất đồng quan điểm, bất đồng tư duy mà thôi. Một xă hội của đồng chí tất nhiên không trải chiếu hoa cho những kẻ bất đồng chí. Nhưng điều đó không có ǵ là mới mẻ, không phải là đặc sản riêng của chuyên chính vô sản, mà của bất kỳ nền chuyên chính nàọ Một trí thức từng là đồng chí như Nguyễn Trăi khi thành bất đồng chí tất nhiên cũng phải chịu cái cảnh "Chu di tam tộc". Và một nhà văn tài hoa từng được coi là thần tượng của sự ngông nghêng, thách thức như Nguyễn Tuân; thực ra cũng có thể so với Nguyễn Du; bất măn th́ có bất măn, bất đồng th́ có bất đồng nhưng cả hai th́ dù có miễn cưỡng hay tự nguyện cuối cùng cũng để cho chính quyền trọng dụng ḿnh. Nguyễn Du th́ đóng vai đại sứ đi công cán ở nước ngoài - một chức vụ thực sự là không thấp hèn ǵ. Nguyễn Tuân th́ cũng vậy. Hồi sinh viên tôi thường tự hỏi: Tại sao lại như thế? Phải tay tôi th́ không bao giờ chịu để ḿnh ở cái thế "há miệng mắc quai" như vậy thế; nhưng v́ tôi c̣n chưa hiểu về cái thế "Pḥ chính thống", cái thế quan văn của trí thức Việt Nam, một cái thế quả nhiên là rất "há miệng mắc quai".

Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam, thực ra là một cuộc cách mạng hoàn toàn là do giới trí thức lănh đạo c̣n quần chúng cách mạng th́ thời nào cũng vậy là đám đông, và đám đông trong một nước nông nghiệp là tất nhiên là nông dân. Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức lănh đạo một đám nông dân tranh đấu cho quyền lợi của một giai cấp khác, đó là giai cấp công nhân. Nếu chúng ta nói như vậy th́ việc các quyền lợi dẫm lên nhau, sự không đồng bộ của nhân sự và khả năng phản bội của những bên tham gia đă được định trước.

Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ tôi chỉ muốn nói sự tham gia của trí thức Việt Nam ở buổi ban đầu của cuộc cách mạng, rồi khi cách mạng quay ra "ăn thịt" những đứa con đẻ của ḿnh và bây giờ th́ rơ ràng là cách mạng đă về hưu. Mối t́nh của chủ nghĩa cộng sản và trí thức nhất là trí thức cánh tả trên toàn thế giới là một mối t́nh phức tạp, đẫm nước mắt và đẫm máụ Nhưng tôi dám nói rằng chính cái cuộc t́nh hết sức lăng mạn và nồng nhiệt của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam thuở ấy đă chắp cánh cho cách mạng khiến cho nó không chỉ là cuộc khởi nghĩa nông dân, bạo động của thợ thuyền.

Điều ǵ diễn ra khi cách mạng không chỉ c̣n là một ư tưởng và một lư tưởng mà đă trở thành một hiện thức một chế độ, một guồng máy khổng lồ. Tôi xin trích ra ở đây một vài ḍng nhật kư của Trần Dần năm 1958 vào cái thời điểm mà người ngoài tưởng là sự nổi dậy trong văn giới Việt Nam được biết đến dưới cái tên "Nhân văn Giai phẩm" c̣n rất là sôi sục. Ông ghi ngày 08-01-1958 như sau:

"Tin chạy x́ xầm xung quanh rất là ghê gớm, rằng Báo Văn là một cái "dớt" của Nhân Văn, rằng Nhà xuất bản Hội nhà văn bị lái, rằng Câu lạc bộ thành nơi hoạt động của bọn Nhân Văn, chúng ra tay chèo lái một cách tinh vi. Sự thật ra "bọn Nhân Văn 2 ấy non năm nay họ đă theo một cái chính sách ǵ? Có thể tóm chính sách của họ là: "Sợ - Cầu an - Cố đi gần lănh đạo - Dao động chán nản - một ngón tay Nhân Văn cũng không có". Non năm nay họ đă nằm bẹp cả xuống vắt tay lên suy nghĩ các nhà hiền triết cả rồi, họ c̣n cái khao khát chiến thắng của những người tiến bộ nữa đâu. Nói đúng ra họ vẫn mong đợi sự tiến bộ sẽ thắng, song họ sẽ mong nó thắng bằng cách ích kỷ, tức là bằng bàn tay thúc đẩy của kẻ khác hơn là bàn tay họ, như vậy đỡ nguy hiểm hơn. Giá lănh đạo thuyết phục, họ sẽ có cơ giác ngộ trở nên con nhà nết na nữa cũng nên, đằng này lănh đạo cứ cái chính sách ụi thục vô lư măi, họ càng tủi thân và thất vọng. Tôi biết họ chỉ mong một điều là: Mong thánh đế hồi tâm" .

Những ḍng ấy được viết ra do một trong những người cứng cổ nhất trong "Nhân Văn-Giai Phẩm" là Trần Dần, tôi xin lưu ư những khái niệm như "Cố đi gần lănh đạo - Lănh đạo thuyết phục - Mong "Thánh đế hồi tâm". Tôi cho rằng không cần phải nhiều lời nữa để mô tả cái tính cách "pḥ chính thống" này của văn nghệ sĩ Việt Nam. Nếu có một trí thức thực sự ly pha với quyền lực, ly pha với quyền lực không lấy ǵ làm đẹp đẽ lắm của chế độ cộng sản th́ phải có mười trí thức đang nằm chờ ngày "Thánh đế hồi tâm" và có một trăm trí thức không làm ǵ khác hơn là để cho cái chính quyền ấy trọng dụng ḿnh.

Mao Trạch Đông trong bài nói chuyện nổi tiếng ở Thiên An có tuyên bố thẳng thừng: "Trí thức là cục phân", nhưng người am hiểu hiện thực của Chủ nghĩa xă hội phải nói: "Trí thức là cục vàng" - những cục vàng ấy là báu vật nằm trong tay những nhà cầm quyền. Ở một địa vị như vậy th́ có lư do ǵ để mà thay đổi! Người ta có thể gọi đó là cái hèn, cái nhu nhược, cái cầu an, c̣n tôi gọi đó là cái "nghiện", "nghiện chính thống". Nghiện suốt cả một lịch sử th́ không dễ ǵ một vài ngày mà cai ngay được. Người nghiện th́ ít khi trách cái sự nghiện của ḿnh mà có chăng chỉ đổ tội cho cái làm ḿnh nghiện. Chúng ta phải buộc ḷng đi đến một kết luận: Khi tự đồng nhất ḿnh ở mức độ cao như vậy với giai cấp thống trị, bất kể là giai cấp cao như thế nào th́ cái bộ phận ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam là trí thức Việt Nam mặc nhiên phải đánh mất cái thôi thúc cải thiện thay đổi xă hội. Một ông tri thức trong đám nho giáo làm quan tất nhiên là không bao giờ nảy sinh ra sáng kiến xóa nạn mù chữ trong đám dân đen. Bởi lẽ ông ta chỉ hơn họ có mấy trăm chữ ở trong bụng. Một ông phụ trách trong Ban Văn hóa-Văn nghệ tất nhiên là không khuyến khích ǵ những thứ thơ văn mới lạ, bởi lẽ nếu thiên hạ mà đi say mê thứ văn thơ mới lạ đó th́ thơ ông ta ai đọc? Kinh nghiệm của chính bản thân tôi ở trong nước, với tư cách là một nhà văn hiện nay không được phép công bố tác phẩm ở trong nước là: Chưa có một "ông Đảng" hay một "ông Công an" nào có cơ hội đọc duyệt tác phẩm của tôi cả. Bởi v́ sao ? Bởi, trước khi các vị đó xem đến bản thảo của tôi th́ các đồng nghiệp của tôi ngồi ở những chức vị rất nhiều quyền lực đă kiểm duyệt hộ chính quyền từ khuya rồi!

Kỳ 2

Bây giờ tôi xin nói đến tư cách học tṛ của trí thức Việt Nam.

Thực ra dân tộc Việt không phải tiếp xúc với những kẻ đến từ nên văn minh cao hơn và mạnh hơn hẳn. Láng giềng của nước Viêt một thuở như chúng ta đă biết là: Chiêm Thành, Ai Lao, Phù Nam, Khơme, Chiêm La, Xiêm La, Chà Và, Nhật Bản; đương nhiên là người Việt cũng tiếp thu điều này, điều nọ trong quá tŕnh giao lưu với họ. Thế nhưng chúng ta có thể lấy hẳn của người Chiêm Thành một giống lúa chiêm mà chả buồn học hỏi ǵ nhiều ở văn hoá và ngôn ngữ của họ. Chúng ta lấy biết bao điệu nhạc buồn của họ vào chính cái quan họ Bắc Ninh nổi tiếng. Chúng ta đă khiến cho cái làn điệu dân ca đó trở nên buồn nhất trong các làn điệu dân ca của miền Bắc nói chung, lúc đó miền Bắc là cái nôi văn hoá và lúc đó Việt Nam chỉ dừng lại ở miền Bắc. Chúng ta lấy của họ như vậy mà chả buồn học hỏi điều ǵ ở họ, không buồn nghiên cứu chút ǵ về họ và thậm chí dường như chúng ta chôn phắt họ đi không tiếc nuối ǵ hết. Như vậy ở một cái thế của kẻ mạnh hoặc ít nhất ở cái thế của kẻ bằng vai th́ người Việt chẳng thèm học hỏi ai cả, chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả. Thế nhưng khi ở cái thế của kẻ yếu, của kẻ bị chinh phục, bị khinh bỉ, bị nhục nhă th́ sự học hỏi của chúng ta mới vội vă bắt đầu. Tôi biết trong một tác phẩm về việc người Việt chẳng có ai buồn học biết Nhật như sau: "... người Nhật chiếm nước này chưa đủ dài để người nước này thèm tiếng Nhật, nỗi nhục chưa ngả th́ ḷng yêu".

Cái sự học của trí thức Việt Nam trong cái giằng xé giữa một bên là nỗi nhục một bên là ḷng yêu là một sự học đầy mâu thuẫn, thậm chí có thể nói là bệnh hoạn đầy những đau khổ mà bản thân tôi có thể chia sẻ nhiều phần. Ta hăy lấy ví dụ về việc học này qua cách sáng tạo chữ viết. Cả người Việt lẫn người Nhật đều không có chữ viết riêng. Trung Hoa th́ lại có chữ viết, nhưng Trung Hoa lại không băng qua biển mà mang chữ viết đến cho người Nhật. Và nói chung th́ Trung Hoa là một nước lục địa họ tin ở con ngựa hơn con thuyền, một cái từ mà chúng ta gán cho họ dùng để chỉ họ là người "Tầu" thật ra chả đúng tư nào, họ là dân tộc không liên quan đến tầu bè. Trung Hoa rơ ràng không băng qua biển để cưỡng bách người Nhật phải học sách Tầu và viết chữ Tầu, mà chính là người Nhật đă tự động băng qua biển đến Trung Hoa rồi khuân một ít văn hóa Trung Hoa, trong đó có chữ viết về nhà họ để dùng "tạm" trong lúc c̣n thiếu thốn. Cái thái độ đi học của người Nhật như vậy là thái độ chủ động tích cực và có sự ṣng phẳng của nó, cần th́ đọc, thích th́ đọc, hoàn toàn là tự nguyện. Và một khi người Nhật đă mất công lặn lội như vậy để khuân về nhà từng ấy bộ chữ Trung Quốc th́ họ cũng dùng hết, không vứt đi đâu bộ nào cả. Tất nhiên, không phải ngày một ngày hai, nhưng sau trên dưới khoảng mười thế kỷ sau nhiều thất bại th́ người Nhật cũng dùng được bộ chữ Trung Quốc trong việc ghi lại tiếng Nhật. Chữ Nhật ra đời và trụ được cho đến ngày nay trên cơ sở bộ chữ Tầu giản tiện. Một người Nhật biết tiếng Tầu th́ rất đáng quư, thế nhưng nếu không biết th́ họ vẫn có khả năng dùng tốt chữ Nhật của họ. Họ đă thành công trong việc đi học ở nước ngoài và làm ra được cái mà họ chưa có. Họ là hạng học tṛ ngoại lệ.

C̣n việc sáng tạo chữ viết của người Việt diễn ra như thế nàỏ Người Việt chúng ta chẳng cần lặn lội sang Tầu mà học hỏi ǵ cả, mà chính là người Tầu mang một núi khí giới, một rừng người đến trước, rồi sau đó khuôn một ḥm sách sang sau. Dĩ nhiên là người Việt vừa học vừa chửi, giống hệt như vừa học vừa chửi người Pháp, vừa học vừa chửi người Liên Xô, vừa học vừa chửi người Mỹ. Cái sự vừa học vừa chửi này nó biến thiên qua nhiều cấp độ và tuỳ vào diễn biến và triển vọng trong mối quan hệ giữa thầy và tṛ. Ở trong dân gian cái thái độ lưỡng phân này thường bùng nổ chỉ ở thời gian đầu và sau đó th́ có thể nói là cái ǵ của ta sẵn có, cái ǵ mà nó bắt ta phải học dần dần cũng đồng hoá vào nhau ở cấp độ dân dă đôi khi không phân biệt nổi xuất xứ nữạ Thí dụ như nói dến ông Bụt chẳng hạn, nào ai c̣n rạch ṛi rằng đấy là một "ngoại kiều" Ấn Độ mà tên phải gọi là Budda cơ, nào có ai phải rạch ṛi đến thế đâụ Nhưng trong giới trí thức th́ cái thái độ lưỡng phân kia là cả một tấm bi hài kịch có pha đầy phi lư, những điều trái khoáy, những pha nực cười và tất nhiên là rất nhiều pha rất là vô duyên. Với giới trí thức Việt Nam th́ chỗ này có sự rạch ṛi của nó. Cái học thuyết của ông Bụt không mang tên là Bụt giáo mà mang tên là Phật giáo, bởi lẽ giữa chữ Bụt và chữ Phật có một khoảng trống, và trong khoảng trống ấy là ông thầy Trung Hoạ Việc người Việt luôn có những kẻ thù mạnh và giỏi hơn ḿnh nên người Việt buộc phải tiếp thu cái nền văn minh của kẻ thù, viêc ấy vừa là một bất hạnh vừa là một diễm phúc. Rơ ràng là trên đời chả có cái ǵ là không có ít nhất là hai mặt của nó, chỉ có điều sức mạnh và tầm vóc của một nền văn hoá biểu hiện ra ở chính cái chỗ mà nó vận động như thế nào trong cái sự phức tạp đa chiều đó. Nó có đủ khả năng khống chế sự bất hạnh và khuyếch trương cái diễm phúc kia lên không, hay là ngược lại nó chả có một chủ trương chiến lược nào cả, cứ tiện lúc nào sướng cái hay của Tây của Tầu th́ khen lấy được, học lấy được, lúc nào cáu lên th́ vứt hết dẹp hết quay về "trâu ta ăn cỏ đ̣ng ta". Và tôi ngờ rằng cái sự tuỳ tiện này chính là sự ứng xử của chúng tạ Người ta có thể cho cái sự tuỳ tiện một cái tên quan trọng hơn là "Sự linh hoạt" chẳng hạn, nhưng tên có hay như thế nào th́ cũng không thể kéo cái hiện thực dở đó theo được. Những kẻ bị buộc phải đi học trong t́nh thế lưỡng phân th́ phải dẫn đến hệ quả ǵ? Một trong những hệ quả là hắn không bao giờ học hết chữ thầỵ Mới học được nửa trang, mới đọc được nửa trang, học đến nửa quyển sách th́ "cái phanh" của ḷng yêu nước, ḷng căm thù ngoại xâm (Tất nhiên là những cái đó rất chính đáng!) đă chặn lại và hắn nhất quyết quay xa với khẩu hiệu "Tự lực cánh sinh", hoặc phương châm sáng tạo ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam nghiên cứu đối phương. Chẳng hạn khi người ta có một kẻ thù th́ phải nghiên cứu nó và đó là động cơ để học hỏi nền văn minh của kẻ thù. Chỉ có điều tôi cảm giác rằng sự học, sự nghiên cứu của chúng ta chỉ dừng lại ở cái mức tin tức t́nh báo, đại loại như cái thông tin rằng quân Nguyên Mông không thạo đường thuỷ, hay đại quân hậu cần của giặc hiện đang tắc nghẽn ở đoạn nàọ Chắc là cái sự học sự nghiên cứu của chúng ta nó dừng lại ở chỗ ấy, nó khác hẳn sự nghiên cứu của người Tầu, người Pháp, người Mỹ về chúng tạ Có một thực tế là các học giả Việt Nam ngày nay muốn thực sự nghiên cứu về Việt Nam th́ không thể không sang Trung Quốc, Pháp và Mỹ để ngồi đọc tài liệu Việt Nam, mà những nước đó đem về giữ trong những thư viện và trong văn khố của họ. Tôi có một người bạn, hiện nay đang lang thang ở các trường đại học Mỹ để nghiên cứu về Phan Khôi. Một cái hành tŕnh hết sức ṿng vo v́ sao ? Để nghiên cứu về Phan Khôi th́ anh phải đọc báo của Việt Nam ở những năm 30, những báo th́ chúng ta không giữ lại đầy đủ, chúng ta không giữ lại theo đúng tinh thần của người Việt là thời nào biết chuyện của thời đó, thời nào khoanh lại thời đó, thế hệ nào khoanh lại thế hệ đó không có dính líu ǵ đến thế hệ sau nữa cả. Nhưng người Pháp th́ khuân những thứ báo đó về Pháp, không phải chỉ khuân một bản mà khuân nhiều bản. Cái bản thừa, bản đúp th́ họ bán lại cho người Mỹ và bây giờ th́ Bộ văn hoá Pháp cấp cho một nhà nghiên cứu Việt Nam một khoản tài trợ để nhà nghiên cứu Việt Nam sang Mỹ mua số báo Việt Nam đă được Pháp bán lại cho Mỹ, để nghiên cứu về một nhân vật Việt Nam đàu thế kỷ. Đối với giới sử học Việt Nam, các công tŕnh của cơ quan nghiên cứu Pháp tại Viễn Đông-Bác Cổ là một chỗ dựa không thể thay thế nổị Rơ ràng là thực dân Pháp muốn chinh phục và bám trụ ở Đông Dương và điều đó th́ không có ǵ để bàn căi cả. Để làm điều ấy th́ họ cần hiểu biết về cái xứ sở mà họ muốn chiếm giữ, hiểu biết tường tận về văn hoá, một nền văn hoá xa lạ với họ, chứ không phải chỉ là thu thập những tin tức t́nh báọ Chắc chắn là hoạt động của Viễn Đông-Bác Cổ do Bộ thuộc địa Pháp tài trợ. Các học giả và trí thức Pháp có thể bị dùng vào công việc không lấy ǵ làm đẹp đẽ lắm, song bản thân công việc của họ diễn ra nghiêm túc và thấu đáọ C̣n các học giả Việt Nam có thể là công cụ cho một mục đích chính đáng, song kết quả công việc của họ lại tạm bợ và nửa vời.

Xét về phương diện này th́ trí thức Việt Nam ngoại lệ nhất là Nguyễn Trường Tộ và bản thân Tự Đức cũng là một bậc trí thức không đến nỗi là ngu dân như trong sách sử mô tả. Song như chúng ta đă biết, trong chương tŕnh Canh Tân được Nguyễn Trường Tộ đề nghị và rất nhiều điểm cũng được Tự Đức tán đồng không hề được thực hiện. Đa số giới cầm quyền đương thời cũng là các bậc học giả hiểu cao, biết rộng, họ có đủ lư do cần thiết để cản trở chương tŕnh Canh Tân đó, mà cái lư do là Nguyễn Trường Tộ là người theo đạo Tây chỉ là một cái cớ.

Một mặt th́ chưa học tới nơi tới chốn đă sốt sắng sáng tạo để rồi toàn đi đến những kết quả nửa vời như vậy, mặt khác khi chỉ c̣n một ḿnh với cái đống sáng tạo dở dang không dùng được đó th́ người trí thức Việt Nam mới lại trở thành một học tṛ ngoan thậm chí rất ngoan. Ngoan tới mức thành kẻ nô lệ, thành bảo hoàng hơn vua. Thậm chí Khổng Tử hơn cả Khổng Tử, ga-lăng hơn cả người Pháp, Mác-xít hơn cả cha đẻ của Mác-xít. Lúc bấy giờ cái người học tṛ thích sáng tạo ấy tự phong cho ḿnh những cái danh hiệu chẳng hạn là đại diện xứng đáng nhất cho những trường phái ǵ ǵ đó của những ông thầy ǵ ǵ đó... Khi Trung Hoa đă là Trung Hoa dân quốc, trí thức Trung Hoa đă miệt mài ngồi dịch sách của Rousseau, Montesquieu, th́ lúc đó trí thức Việt Nam vẫn c̣n chết ch́m trong cái mớ "Thi Vân Tử Viết' (?...) của ḿnh, và triều Nguyễn lúc đó c̣n trưng ra những nghi lễ nho giáo c̣n khắt khe hơn triều đ́nh Bắc Kinh một thuở. Ví dụ, ta có thể lấy chủ nghĩa lăng mạn trong văn học Việt Nam Tiền chiến làm ví dụ cho việc này. Tất nhiên là phong trào Thơ mới và Văn xuôi 1930-1945 là một bước tiến khổng lồ cho văn học Việt Nam, song thần tượng của nó, nguồn ảnh hưởng của nó từ văn học Pháp lúc đó là những thứ đă diễn ra trước đó có khi cả thế kỷ. Cái mà ông thầy Pháp đă bỏ đi trong giáo tŕnh của ḿnh từ mấy đời th́ anh học tṛ Việt vẫn c̣n nghiền ngẫm say xưa lắm, c̣n cái mà ông thầy ấy đang giảng ở trên lớp th́ anh học tṛ ấy chỉ nghe có một nửa tai rồi bảo rằng: "Cái đoạn này th́ ta nên tự lực cánh sinh". Cho đến tận bây giờ cái tinh thần của văn chương lăng mạn tiền chiến vẫn chế ngự trong văn chương hiện đại, nếu có ai phê b́nh th́ các vị ư vênh mặt lên bảo rằng: "Văn chương Pháp cũng thế, dám chê cả văn chương Pháp à!?" Song những điều đang diễn ra trong văn học Pháp th́ chẳng có ai buồn học, có bảo là phải học th́ các vị ư lại bảo: "Biết cả rồi, xoàng cả thôi, cũng chả hơn ǵ ta đâu, ḿnh làm có khi c̣n hay hơn!" Như thế th́ hỏi làm sao mà văn chương nghệ thuật nước ta không luôn luôn đi lạc một bước, ít nhất là một bước sau thế giớị Năm mươi năm nữa chẳng hạn các học tṛ Việt lại đi mở những thứ sách của thế giới bây giờ ra để học lấy học để, đă học như thế th́ lấy đâu ra thời gian để học chính những thứ đang cùng thời với ḿnh. Hỏi làm sao cái học đó không phải là cái học viển vông.

Giữa chủ động nô lệ và chủ động sáng tạo ta có thể quan sát rơ ở các trí thức Việt, nhất là khi họ đi ra nước ngoài để học hỏi. Chẳng hạn, khi ra nước ngoài học về khoa học quản lư, là một thứ mà chúng ta chưa bao giờ có. Rơ ràng trước khi một nước phương Tây quyết định đầu tư vào một chỗ nào đó ở Việt Nam th́ họ đành phải làm cái việc không đừng được là đào tạo, cũng như việc họ bán cho chúng ta một cái máy bay th́ họ phải làm cái việc là đào tạo cho chúng ta một anh phi công, đấy là chuyện họ không đừng được. Như vậy là trí thức Việt cắp cặp đi học khoa học quản lư hiện đại, chữ thầy được mười th́ học tṛ nghe được một, thôi thế th́ cũng là may rồi. Nhưng cái mà tôi thường xuyên chứng kiến ở những người đó là họ sẵn sàng vứt tất cả một phần đó đi, và bảo rằng: "Úi trời, cái kiểu quản lư này không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam!" Cũng là có lư chứ không phải là không có lư, tất nhiên là không ai đi bệ nguyên xi nước ngoài về mà dùng được, chuyện đó tôi không bàn. Tinh thần sáng tạo th́ bao giờ cũng muôn năm cả, thế nhưng cũng chính những người đó khi quay trở về nước đối mặt với những lề lối quản lư rất Việt Nam, rất mông muội, rất trung cổ th́ lại giương cái sở học của ḿnh trong các chuyến đào tạo ở nước ngoài như vậy ra mà bảo rằng: "Tây nó làm như thế, Tây nó khác, Tây nó phải như thế; Không được thế nàỵ.. Không được thế kiạ.." Nhưng Tây nó bảo như thế nào th́ không c̣n nhớ nữa, thế là lại đi học nữa! Xă hội Việt Nam sinh ra một tầng lớp trí thức không làm điều ǵ khác hơn là suốt đời đi học như vậỵ Cứ đến lớp th́ chê thầy, cứ về nhà th́ nhớ thầy xin cắp cặp theo học lạị Suốt đời đi học như vậy, như thế th́ làm sao được như người Nhật tự làm ra chữ viết cho ḿnh.

Chữ Nôm Việt Nam được làm ra về xuất phát điểm thực ra không khác ǵ chữ Nhật, chỉ có điểm khác là nó không thành công. Muốn dùng chữ Nôm th́ người ta phải biết dùng chữ Hán trước đă, rồi sau đó phải học nguyên tắc cấu trúc chữ Hán vốn rất là phức tạp như vậy vào làm sao cho nó thành ra cái gọi là chữ Nôm. Tôi lấy một ví dụ: chữ "Trời" chẳng hạn, muốn viết ra mặt giấy th́ ta phải viết như thế nàỏ Th́ người ta phải biết hai chữ Hán là chữ "Thiên" và chữ "Thượng", phải biết cách ghép hai chữ này lại với nhau để thành một chữ "Trời". Quả nhiên là một cái logic vô cùng kinh hoàng đối với h́nh dung của tôi, cứ làm như c̣n một cái "Thiên" nào khác ngoài cái "Thượng" đó. Mà đă thế sao không dùng luôn tiếng Hán chỉ có một chữ "Thiên" là xong, tại sao lại hai lần tiếng Hán như thế gộp vào nhau để ra thành chữ "Trời"? Trong cái công tŕnh sáng tạo chữ Nôm ấy, rơ ràng "Sáng tạo là ǵ? - Là ghép hai cái dập khuôn vào với nhau! Tôi chưa bao giờ dám tự hào về cái chữ Nôm mà theo tôi (xin lỗi các vị) (?..) là điển h́nh cho cái tinh thần khổ dân (?..). Phải học cái chữ của kẻ thù th́ đơn giản là khổ thôi, nhưng học cái chữ của ḿnh bằng cách hai lần đi qua chữ của kẻ thù th́ là sướng? Như thế th́ chẳng phải khổ dân (?..) th́ là cái ǵ? Song kết cục quá tŕnh làm ra chữ viết như thế nào th́ lại là bất ngờ lớn cho chúng ta, chữ quốc ngữ là tác phẩm của một số cha cố Ḍng Tên. Cái may của chúng ta trong câu chuyện này là những người truyền giáo có mặt ở Việt Nam trong một thời gian dài, có ảnh hưởng quan trọng là các vị Ḍng Tên nổi tiếng là những trí thức tu sĩ uyên bác, có năng khiếu ngoại ngữ và có một ḷng khoan thứ nhất định đối với những tín ngưỡng khác, chứ không phải là các vị của Ḍng Dominique (?..) như trong trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn.

Những căn bệnh khác của "người học tṛ Việt Nam" trong t́nh thế lưỡng phân này chúng ta có thể kể ra. Học như vậy th́ không thể không mặc cảm. Đương nhiên là phải thấy ḿnh bé nhỏ, kém cỏi trước cái khổng lồ, phong phú và cái ưu thế của các thành tựu văn hoá khác. Tôi thực sự chưa được chứng kiến một trí thức hay một văn sĩ Việt Nam nào có một ḷng tự tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước ngoài. Nếu mặc cảm như vậy th́ không thể không chán nản mà ỳ ra và ăn sẵn. Dường như trí thức Việt Nam có thể rất yên tâm mà nghĩ rằng: "Không có chúng ta th́ thế giới vẫn tiến bộ ầm ầm". Thế th́ hăy đợi người ta tiến bộ mà ăn nhờ có phải là đỡ mất công hay không, mà đằng nào nếu ḿnh làm th́ có ra ǵ đâu mà làm. Thế nhưng ăn sẵn cũng có rất nhiều cách ăn sẵn. Cái cách ăn sẵn của trí thức Việt Nam chúng ta nó chẳng giống ai cả, c̣n chọn chán, c̣n chê chán, c̣n chặt miếng ra và chọn miếng nào cho vừa mồm ḿnh, vừa khẩu vị ḿnh, dễ cho cái bụng ḿnh tiêu hoá th́ mới dùng. Tất nhiên điều đó cũng có cái hợp lư của nó, song v́ sao không thử xem lại cái miệng ḿnh có nhỏ quá hay không, khẩu vị của ḿnh có cần thay đổi đi hay không và bụng dạ ḿnh có c̣n đủ tốt để tiêu hoá cái ǵ đó hay không.

Tóm lại, khi cái học của một tầng lớp có học của chúng ta như thế th́ cái học ấy có hơn ǵ sự vô học của một đám đông hay không. Hỏi làm sao mà cái học ấy không giúp ǵ được ai. Tôi xin dừng lại ở đâỵ

Phạm Thị Hoài

 

 

 


Về thiên sứ của Phạm Thị Hoài


Tên nhân vật chính của tác phẩm ( và cũng trùng với bút danh của tác giả) là Hoài. Chẳng biết tại sao chị lại đặt cho nhân vật của ḿnh cái tên ấy : nỗi nhớ. Có điều, tác phẩm của chị cũng giống hệt như một nỗi nhớ, một hoài niệm kín đáo nào đó, một ḍng suy tưởng lặng lẽ, lan chảy. Và cô bé Hoài nắm tay dắt ta vào một thế giới hoàn toàn khác lạ với thế giới của chúng ta, thế giới của riêng một ” nỗi nhớ “ với ” bốn trăm ô vuông nâu và một khuôn chữ nhật biến ảo, xoay như xoay rubich “, trong một hệ thống khổng lồ như những tấm gương lồi lơm, những đa giác, lục giác, bát giác gương quay tṛn xung quanh một tâm điểm : con người. Con người với những biến dạng phức tạp của nó, một con người lập thể chứ không hẳn là một con người bằng xương bằng thịt, càng không phải là một Con Người viết hoa.

Sau những năm dài của một nền văn học mà người ta đang ” xám hối “ - nói như Nguyễn Minh Châu - Thiên sứ xuất hiện như một điều ngẫu nhiên. V́ độc giả Việt nam, hay nói cho chính xác hơn, thị hiếu văn chương Việt nam chưa chuẩn bị để đón nhận một tác phẩm văn chương loại này của một nhà văn Việt nam. Chỉ vài năm nay thôi, Dạ Ngân, Nguyễn Thị ấm, Thu Huệ mới đăng quang bằng những tác phẩm mang hơi hướng t́nh dục, chứ vào thời điểm mà nó ra đời ( cách đây đă năm sáu năm) Thiên sứ chỉ gặp phải sự lạnh lùng của giới phê b́nh Việt nam. Người ta nhắc khẽ đến nó trong những cuộc nói chuyện không chính thức của giới văn nghệ, tác phẩm được biết tới trong một nhóm rất nhỏ những người yêu văn học, vậy thôi. Một số nhà phê b́nh nhanh nhảu đă kịp viết bài chỉ trích, tiếc thương cho một tài năng trẻ sớm sa vào cạm bẫy của ” Chủ nghĩa hiện sinh“, ” chủ nghĩa siêu thực“ và vô số những ”ismes“ ǵ đó mà những đầu óc ” thông kim bác cổ“ đó vốn rất sẵn. Nhưng thời đại đă khác rồi, và một trận đ̣n hội chợ đă không kịp xảy ra. Bị thích trên ḿnh dấu hoa huệ của một tác phẩm ”có vấn đề“, Thiên sứ ch́m vào trong một sự im lặng đầy ác ư, và ngay cả các giải thưởng quốc tế mà nó giành được gần đây cũng không đủ sức xoá tan bức màn im lặng đó.

Thực ra trong bất kỳ một sợ chỉ trích nào cũng hàm chứa một phần sự thật nào đó. Đằng sau lời nhận xét dè dặt ” thiếu dung dị “ là sự bối rối của các nhà phê b́nh trước một tác phầm không hề đơn giản. Vốn quen với những chủ đề dễ hiểu của ” chiến tranh và xây dựng“, với những ” hoàn cảnh điển h́nh và nhân vật điển h́nh“, với nhứng bức tranh chỉ có đen và trắng, phải và trái, không có chỗ cho những bóng nhoè đen trắng, không có chỗ cho những t́nh cảm phức tạp khó hiểu, họ lúng túng và ngượng ngùng khi phải đối mặt với sự sâu thẳm của thế giới nội tâm, một tiềm thức hay những xung đột kỳ quặc của một thế giới hiện đại ngày càng buồn chán hơn với một con người ngày càng cô độc hơn. Và cái thế giới của một cô bé vĩnh viễn mười bốn tuổi ấp ủ trong ḷng ḿnh kư ức về một vừng mặt trời đỏ ối và một vùng hồ mênh mang, bó chặt trong một khung cửa sổ với những ẩn ức khó hiểu của riêng nó lại càng xa lạ đối với họ.

Cái lạ của Thiên sứ lại vốn dĩ ... không hề lạ. Đúng là lạc vào thế giới của Thiên sứ, chúng ta như lạc vào mê cung của nhà vua Medat, nếu thiếu sợi chỉ màu của nàng Mede sẽ thật khó t́m thấy đường ra. Và nếu cứ chia nhân vật ra tuyến nọ tuyến kia trong hành tŕnh khô cứng của cái bắt đầu và cái kết thúc, của thắt nút và cởi nút, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ rối bời trong một đống mâu thuẫn khổng lồ. Có nhà văn đă nói ” trên đời có những cái rất thật mà lại không phải là sự thật!“. Đúng vậy, cũng như có những cái tưởng là không thật mà lại chính là sự thật. Bởi bản thân tác phẩm đă là một ” rừng biểu tượng“ - nói như Baudelaire( Correspondences - Tương hợp) - Chúng ta phải biết cách thâm nhập vào cánh rừng ấy. Hăy đọc Thiên sứ theo cách khác, cái cách mà Hoài Thanh đă khuyên khi ông nhận xét về tuồng. Hăy hiểu tính ước lệ của nó, hăy loại bỏ, thanh lọc ḿnh khỏi những thiên kiến chủ quan về phải và trái, về cái có thật và cái trừu tượng, nhập thân vào thế giới của các nhân vật, các huyền thoại, các biểu tượng, mở ḷng ra và ” văn sẽ tràn vào trong ta trong một giây “ (Tsekhop).

Bởi lẽ cái quyến rũ nhất của Thiên sứ là chất ảo của hiện thực. Không phải ngẫu nhiên câu chuyện lại được xây dựng trên hồi ức của một cô bé, trên ḍng suy tưởng chậm chạp và lắng đọng của một tâm hồn bất biến trước những biến động của xă hội và thời gian. Tâm điểm ở những tấm gương dồn tụ ở Hoài, ” ốc nhỏ bám riết bậu cửa sổ“, vĩnh viễn ” mười bốn tuổi“. Em là con mắt băo, và thế giới trong Thiên sứ là thế giới của riêng em, được nh́n bằng con mắt của em, thế giới trong trắng của trẻ thơ, thế giới của những ước mơ mộng tưởng kỳ ảo. Chính đây là tấm lăng kính tạo cho Thiên sứ vẻ hư ảo quyến rũ ngần ấy.

Không chỉ có Phạm Thị Hoài đặt niềm tin của ḿnh vào tuổi thơ. Có người đă than thở :“ Tôi thường thích nói chuyện với trẻ con, ít ra th́ c̣n có hy vọng là chúng sẽ trở thành những tạo vật có trí tuệ, c̣n những kẻ ngay tự bây giờ đă coi ḿnh là thế th́ ... than ôi! “. Phải, chỉ có trực giác tuyệt vời của trẻ nhỏ mới có thể đưa ra cái logic cực kỳ đơn giản rằng loài người chỉ có hai loại ” homo A và homo Z ”, ” người có khả năng âu yếm dịu dàng và kẻ không có khả năng ấy“. Hoàn toàn chỉ tuân theo một quy luật, quy luật của trái tim , mười lăm năm ṛng , cô bé Hoài làm cái việc phân chia ấy một cách ” nhẫn nại, không ṭ ṃ, không giàu óc tưởng tượng“, dường như đó là ” công việc có ư nghĩa duy nhất trong cuộc đời cô “. Tâm hồn trong trẻo của cô bé Hoài như một tấm lưới lọc khổng lồ, tách nhân loại ra làm hai hạng : có xúc cảm và vô cảm. Thật đơn giản làm sao ! Nhưng như lời chú mèo của H. Andecxen đă nói trong ” Nữ thần băng giá“: trực giác tuyệt vời ấy, khả năng kỳ diệu ấy là món quà Thượng đế giành riêng cho trẻ nhỏ. Khi lớn lên con người ta quên đi, đánh mất dần khả năng ấy, và đến một lúc, không c̣n tin rằng có thời họ đă suy nghĩ và hành động như vậy. Người lớn với cả một hệ thống logic rắc rối đầy ắp những cái có thể và cái không thể, nên và không nên, có lợi và không có lợi làm sao có thể chấp nhận cái triết lư rạch ṛi về homo A và homo Z, cũng như họ không thể hiểu được h́nh vẽ con trăn tiêu hoá con voi của Saint-Exupery ( Le Petit Prince). Khả năng cảm đă phải nhường chỗ cho khả năng hiểu. Phải chăng v́ thế mà cô bé Hoài đă chui vào vỏ ốc của ḿnh “ Ba mươi kilogam, một mét hai mươi nhăm, đuôi sam “? Em từ chối quyền lớn lên, từ chối nhập vào ṿng chuyển động Brown, ”khước từ các loại bậc thang “ để giữ lại cho ḿnh cái quư giá nhất của con người, khả năng có xúc cảm. Bởi v́- lại quay lại với Saint- Exupery - chú cáo trong Hoàng tử nhỏ nói :“ Người ta chỉ thấy thật rơ bằng trái tim ḿnh, cái chủ yếu th́ mắt chẳng thể thấy “.

Nhưng cái lứa tuổi mười bốn vĩnh hằng của Hoài chỉ là vỏ ốc, lớp vỏ vật chất bảo vệ cho một cái ǵ đó sâu thẳm hơn, dữ dội hơn. Dưới đó là tầng sâu của những rung động thầm kín, của những khao khát không được thoả măn, những đ̣i hỏi bị gh́m nén trong tâm hồn một phụ nữ hai mươi chín tuổi. Một người đàn bà khao khát yêu thương và được yêu thương, khao khát cho và nhận bị ép chặt trong h́nh hài một cô bé mười bốn tuổi. Một khuôn mặt trẻ con che chở cho một tâm hồn mang ” cơn sốt núi lửa“ , suốt mười lăm năm ṛng làm ” một nhân chứng câm lặng, thông tỏ quyết liệt, không bao giờ quay lưng lại cuộc đời“. Bên trong lớp vỏ ” Hoài“ là rất nhiều cuộc sống khác nhau. Em mang trọn gánh nặng của một ” nỗi buồn kinh niên“, nỗi đau của ” một con búp bê bé nhỏ, câm lặng“, biết trước tất cả, đoán trước được tất cả mà lại không thể thay đổi được điều ǵ, em - ” đứa con út già trước tuổi gánh chịu tất cả những ǵ bố mẹ và anh chị nó chưa kịp hiểu“

Không hiểu sao, khi đọc Thiên sứ, tôi cứ hay nghĩ đến Cậu bé mơ mộng của Paven Virginov, Jane trong Chân dung nàng của Nathan, Hoàng tử nhỏ của Saint-Exupery. ở tất cả những nhân vật ấy có một điểm chung. Các em dường như không thuộc về thế giới của chúng ta mà thuộc về một thế giới khác bí hiểm hơn, ” một thế giới chưa kịp đến“. Bởi v́ thế giới trong Thiên sứ là một ” đa thế giới“ . Như một h́nh cầu được tạo bởi vô số những đường tṛn đồng tâm, thế giới ảo và thế giới thực, không gian được trải dài ra và không gian bị dồn nén, thời gian một chiều và thời gian nhiều chiều , tất cả đan xen vào nhau tạo thành một sự ” tương hợp“ tuyệt vời. Hoài thu ḿnh lại tới mức tối thiểu, thành ” ốc nhỏ bám riết bậu của sổ“ để có thể thoát ra khỏi thế giới này, nhập thân vào thế giới nội tâm của riêng ḿnh. Lạc lơng giữa thế giới thực, thế giớí các đồ vật, cô bé Hoài im lặng chịu đựng nỗi đau của căn bệnh tổ tông với lời nguyền khắc nghiệt: đau nỗi đau của toàn nhân loại, không có được cả niềm an ủi của một ”hành tŕnh khép kín“ như bé Hon. Em không thuộc vào bất cứ một thế giới nào trong Thiên sứ. Hoài, với ”một mét hai mươi nhăm, ba mươi kilogam ,đuôi sam“ chỉ là lớp vật chất thô kệch giúp cái tôi của em xuyên qua ranh giới của thế giới ảo và vào thế giới của chúng ta, tại những điểm cắt bất đắc dĩ của hai thế giới. ” Cái tôi“ mới chính là chất trừu tượng của nhân vật Hoài, là phân nhân bản, là bản năng nguyên thuỷ của con người, tất cả hoà lẫn trong nhau thành một khối phi vật chất thấm đẫm xúc cảm.
Thiên sứ trước hết là câu chuyện về cuộc phản kháng đầy phẫn nộ, cuộc chiến tranh âm thầm mà khốc liêt, day dứt và tuyệt vọng trong nỗi cô đơn của phần nhân bản đó, chống lại một xă hội tẻ nhạt, xơ cứng, chống lại quá tŕnh xâm thực từ từ bào ṃn các xúc cảm của con người để bảo vệ những ǵ quư báu nhất của nhân loại: tính người, niềm tin ngây thơ vĩnh hằng và bản chất thánh thiện của con người. Phản kháng trước tiên bằng thái độ khước từ. Cô bé Hoài kiêu hănh tuyên bố :“ Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào. Tôi từ chối bất kỳ bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào“. Đối với Hoài, những giá trị tinh thần may sẵn ấy là nguồn gốc nỗi bất hạnh của cả vài thế hệ, với vô vàn những Paven Kocshaghin, Ruồi Trâu F1, F2, F3 đi đứng nói năng, sống, tư duy và yêu đúng theo khuôn mẫu. Cô đă chọn một tác phẩm - mà cô cũng phải thừa nhận là chỉ đáng giá ba xu - làm chiếc ch́a khoá đưa ḿnh tới văn học. Âu cũng là một cách phản ứng! Cái quan trọng không phải cuốn sách đă đem lại ǵ cho Hoài, cái quan trọng là nó đă đánh thức trong cô t́nh cảm nguyên thuỷ , bản năng, khẽ hé mở trước mắt cô cánh cửa bí mật mà- một cách vô thức- tất cả mọi đứa trẻ đều ao ước được ghé đầu vào xem. Cô tự chọn lấy cho ḿnh một thang giá trị riêng, một thang giá trị chỉ có ư nghĩa với riêng cô. Văn học ư thức đă phải nhường chỗ cho văn học tiềm thức !

Thực ra bản thân nhân vật Paven Korshaghin hay Ruồi trâu đều không có ǵ xấu, ngược lại là khác. Điều bi thảm là ở chỗ, đám đông đă chọn nó làm thân tượng cho ḿnh. Và khi đó, anh ta chỉ c̣n có cái tên. Đám đông chọn thần tượng của nó không dựa theo uy tín, tự bản thân, nó nghi ngờ ư kiến của các chuyên gia, của ” nghệ thuật chính thống“. Không phải tư tưởng đă nắm được đám đông, mà thực ra , đám đông nắm lấy tư tưởng để sáng tạo ra một bộ đồng phục tinh thần hào nhoáng cho ḿnh.

Độc giả trẻ của ngày hôm nay hẳn khó có thể cảm nhận tính xác thực trong những trang viết của Phạm Thị Hoài về cuộc sống đô thị những năm cuối bảy mười đầu tám mươi. Không thể trách ng̣i bút trào phúng đến cay độc, mai mỉa chua chát của Phạm Thị Hoài khi viết về cuộc sống tẻ nhạt, tŕ trệ, bức bối của Hà nội thời kỳ đó. C̣n ǵ kinh khủng hơn cái cảnh ” hàng trăm tín đồ cuồng nhiệt xếp hàng trẩy hội tới chiếc ṿi nước duy nhất “ hay khi hiện tượng số đề trở thành ” một trong ba thông tin xă hội hấp dẫn và phổ biến nhất ” xă hội sẽ đi về đâu nếu như trong hành trang tinh thần của lớp trẻ là những lời giảng kỳ dị ” Bơ là loại thịt, người ta đóng trong ống bơ“ hay ” những số báo Thiếu niên Tiền phong hai màu loè loẹt và ngớ ngẩn, một vài đầu truyện Kim đồng do người lớn hạ cố viết cho lũ trẻ, của bố thí hèn hạ“. Con người như người anh thứ hai của cô bé Hoài quên dần đi những đam mê ( dẫu cho đó là những đam mê nhục cảm), đánh mất dần xúc cảm, trở thành các công chức ngoan ngoăn, ” sớm xách cạp lồng đi, tôi xách cạp lồng về“ những chiếc đinh ốc của một bộ máy già cỗi, hoen gỉ. Đó chính là điều đáng sợ nhất. Nỗi ám ảnh khôn nguôi của cô bé Hoài là giấc mơ về những kẻ không có mặt, chính xác hơn là những kẻ bị ”chiếc giẻ lau cuộc sống... tước bỏ toàn bộ những ǵ làm nên bộ mặt đặc trưng của một con người “. Kinh sợ trước viễn cảnh của một xă hội bị thoái hoá hoàn toàn về tư tưởng, nhà văn thảng thốt tự hỏi, sẽ ra sao nêu như tất cả mọi người đều bị d́m trong ” khoảng chân không khổng lồ, hoà tan giải thể “ đó?

Xă hội được tái hiện trong Thiên sứ là lời cảnh báo về một xă hội bị đồ vật hoá chỉ c̣n sống bằng nhịp diệu của trái tim sinh học, chiếc bơm nhỏ đáng thương. Không c̣n đấu tranh tư tưởng để được thừa nhận, hy sinh cả cuộc sống v́ một lư tưởng trừu tượng nào đó. Đấu tranh tư tưởng đ̣i hỏi phải có óc tưởng tượng và tư duy sắc bén. Thay vào đó chỉ c̣n nhà cửa, ăn uống, quần áo và cuối cùng, đơn vị chuẩn để đo tất cả những thứ đó - Tiền là làm cho những con người- nửa máy phải suy nghĩ. Trong Thiên sứ con người chưa bao giờ là homo spacien và sẽ không bao giờ trở thành homo spacien bởi nó chỉ suy nghĩ về thế giới bên ngoài mà không t́m về thế giới bên trong, không chịu suy nghĩ về ḿnh, về con người. Họ chỉ sống một cuộc sống hời hợt trên bề mặt, một cuộc sống chuyển động hết sức nhanh theo thời gian, bởi v́ họ đă quên rằng thời gian c̣n có cả chiều sâu.

Giữa h́nh ảnh có thực về một thế giới hỗn tạp, lộn xộn, đau khổ là giấc mơ tuyệt diệu về Thiên sứ - cô bé Hon mang ” nụ cười mê hồn“ và ” đôi môi thơm mùi sữa“. Hàng ngàn năm mới có một lầm thiên sứ ghé thăm trái đất. Thiên sứ ” toả ánh sáng trong và hiền lành“ hào hiệp ban phát môi hôn và t́nh yêu cho tất cả. Bé Hon muốn chiến thắng cái ác bằng ” nụ cười và môi hôn“ muốn cứu rỗi nhân loại bằng vẻ đẹp ḱ ảo và thánh thiện của ḿnh, thức dậy trong mỗi một con người t́nh yêu cái đẹp, nỗi khát khao quay trở lại với cái đẹp trắng trong nhân bản .

Thực ra triết lư của Phạm Thị Hoài không có ǵ mới mẻ, vẫn là tư tưởng ”cái đẹp sẽ cứu thế giới“ của Shopenhao và Dostoievsky, có điều ở đây, cái đẹp đă không có đủ sức mạnh cần thiết. Con người quay lưng lại... và ” Sứ giả pha lê“ lặng lẽ bay đi, giă biệt trái đất trong nỗi xót xa đối với toàn nhân loại. Con người đă đánh mất cái đẹp, đánh mất cả một thế giới - thế giới tâm hồn

Cặp chị em Hằng - Hoài chính là hai mặt của cái đẹp, cái đẹp phô diễn được và tiềm ẩn ở bên trong. Chị Hằng là lớp vỏ, cô bé Hoài là bề sâu. Điều bất hạnh là cả hai không nhập vào làm một mà lại tách làm hai nửa sống với thế giới của riêng ḿnh, chịu những bi kịch riêng. Hằng là cái đẹp đă bị giành giật, xô đẩy tha hoá, đă được rao bán và đă bị mua, do đó dù có ” nổi loạn“ tới mức nào cuối cùng cô vẫn quay về với ”chiếc lồng bằng vàng“. Không phải ngẫu nhiên mà Hằng và nhà thơ Ph. đă đến với nhau trong một mối t́nh ” ngàn năm có một“ . Nhà thơ Ph. chính là người ca ngợi cho cái đẹp lư tưởng, siêu thực. Anh làm thơ chỉ v́ anh không thể làm thơ, anh ” không làm thơ cho vui“. Anh cũng thuộc về một thế giới riêng, sống với thế giới riêng của ḿnh. Và khi chị Hằng bị cái thế giới đồ vật chiếm hữu, anh lặng lẽ biến mất. Không phải ”vấp đời thường nhật, tan vỡ chiếc thuyền t́nh“mà v́ họ đă thuộc về hai thế giới hoàn toàn khác, hai thế giới không c̣n điểm chung.

Trong tác phẩm của ḿnh, Phạm Thị Hoài kiêng nhất hai chữ lăng mạn, nhân vật Hoài của chị ngay từ trang đầu đă tuyên bố dứt khoát :” Tôi dị ứng kịch liệt trước các kiểu lăng mạn“. Chị sợ cái từ này đến nỗi mỗi khi có bất cứ một h́nh ảnh nào dễ đưa người đọc đến với những liên tưởng ” hơi thơ“ một chút là chị phải ” choang“ thêm ngay ra những lời giải thích hoặc những h́nh ảnh kế tiếp - ít ra th́ cũng không được ” lăng mạn ” cho lắm. Cửa sổ nhà cô bé Hoài ” không mở vào hoa“ mà mở vào ” một nhà máy rượu bia“ , anh thanh niên ” homo A một trăm phần trăm “ cầm trong tay không phải chiếc vĩ cầm mà là một chiếc bơm xe đạp... và c̣n nhiều điều nữa. Ngay cả sự ra đời của ”Thiên sứ“ cũng diễn ra như trong một chuyện ” phản cổ tích“, khi các yếu tố của huyền thoại là hiện thực trần trụi chen vai thích cánh cạnh nhau, xuyên tạc lẫn ư nghĩa của nhau. Cái cách gắn cái “grotesco“ ( thô kệch) và bên cạnh cái thơ đă trở thành phản xạ của ng̣i bút Phạm Thị Hoài. Cái chính là chị sợ... sợ sự thoái hoá của cái nghĩa mà từ ” lăng mạn“ đang được xă hội tiếp nhận, sợ ” mớ sương mù t́nh cảm mà thiên hạ ra sức tung vào mắt nhau “ để ”che lấp tất cả, xoá nhoà tất cả“. Cô bé Hoài không muốn ”cùng chung hành tŕnh“ với thứ t́nh cảm bi ai rẻ tiền nguỵ tạo, những mối t́nh hàng xén thấm đẫm son môi và nước mắt ấy. Không, chữ ” lăng mạn“ phải được hiểu một cách khác, sâu thẳm hơn rất nhiều. ” Chủ nghĩa lăng mạn trong cái ư nghĩ chặt chẽ nhất và chính yếu nhất của nó không ǵ khác hơn là thế giới bên trong của con người, sự sống bí mật của con người ” (Bielinsky). Chính v́ vậy mà chị Hằng của cô bé Hoài đă thốt lên :“ Em hoài nghi t́nh cảm, chỉ bởi em quá nhạy cảm. Em khước từ chủ nghĩa lăng mạn, chỉ bởi em là kẻ lăng mạn nhất trong số những kẻ lăng mạn“. Không chấp nhận thứ chủ nghĩa lăng mạn dung tục, chủ nghĩa lăng mạn theo thời trang ấy, cô bé Hoài luôn luôn giữ cho ḿnh một thế giới bên trong, được nuôi dưỡng bằng những nỗi đau âm thầm và những linh cảm huyền diệu. Chính chất lăng mạn bản năng đó đă giúp cô ǵn giữ niềm tin vào nhân loại, bản chất tốt đẹp của con người.

Hai mươi chín năm là cả một quăng thời gian dài và mặc dù Hoài ” chưa bao giờ thôi phẫn nộ trước những ung nhọt mỹ miều mà con người phô ra cùng đồng loại“ , không khỏi có những lúc cô mệt mỏi, ngă ḷng :“ Sự phản kháng của tôi sẽ đi đến đâu?“. Lại vẫn là câu hỏi ” Quo vadis“ của thánh tông đồ Piere và ngay chính đức Chúa có lẽ cũng không trả lời Hoài được. Cô đă bị thần số mệnh bắt phải vác cây thập tự trên vai tới trọn đời. Chính sự mù loà của xă hôị , của con người, trước hiểm hoạ khủng khiếp của một xă hội tŕ trệ đă làm cho cô tuyệt vọng, oán hận. Nhưng dù sao, cô vẫn c̣n giữ ǵn ḷng tin của ḿnh như người ta đă từng giữ ǵn ngọn lửa những ngày đông. Hoài cũng đă viết ba trăm lần cái tên Ph. vào những tấm phiếu cầu hôn cho chị Hằng như một cố gắng tuyệt vọng để bảo vệ cho cái chân lư :“ Người ta sinh ra để thuộc về nhau“, níu kéo lại cái đẹp. Ngọn lửa chỉ thiêu được cái vỏ c̣n niềm tin th́ vẫn c̣n đấy. Cô bé Hoài vẫn giữ cho ḿnh nắm tro từ ” ba trăm lần Ph.“ như giữ măi niềm tin vào sự vĩnh hằng của cái đẹp trước sự tấn công của đồng tiền và cái tầm thường của cuộc sống.

Đọc Thiên sứ thật thích! Giống hệt như khi ta đang khát khô cổ mà lại t́m đến được với một ḍng sông rộng chỉ muốn cúi xuống uống cạn cả con nước chảy, khao khát ôm chặt cả ḍng sông vào ḷng nhưng khi ngửng lên , ḍng sông vẫn lặng lẽ tuôn chảy, cả một khối nước ẩn hiện lung linh. Ḍng nước th́ vẫn trôi xuôi nhưng có con sông nào là con sông cũ?

Thiên sứ, bản thân nó đă là một khối văn bản, một văn bản nhiều chiều, nhiều tầng lớp. Nó vừa là một sân khấu kịch khổng lồ với các nhân vật truyền thống của sân khấu phương Tây: nhà thơ, thằng lùn, người đẹp, du côn, ác quỷ... trên cái nền ngột ngạt của một không gian tù hăm , vừa là một bài thơ văn xuôi dài. Rất nhiều câu thơ của Phạm Thị Hoài cứ luyến đi láy lại, tạo thành những giai điệu thắm thiết, cuốn quưt lấy nhau, tạo thành những vực xoáy của từ ngữ thăm thẳm. Và c̣n những điển tích... những điển tích của văn hoá phưong Tây chưa bao giờ đậm đặc và trải rộng đến thế trong một tác phẩm văn học Việt nam. Từ thần thoại Hy lạp tới chuyện cổ Andecxen, từ Kinh Thánh cho đến Don Quichotte, từ những chuyển động Brown“ trục tung trục hoành, Hypecbon cho tới những lời bài hát tiếng Anh quyến rũ (”Open your heart, I’m coming home“- bài ”Hey, you“ của Pink Floy, ” the end of something“ của Beatles) hay những nhân vật tên tuổi của điện ảnh thế giới ( Henry Fonda, ”the street car named desire“...) Tất cả đi vào trong văn bản Thiên sứ tự nhiên và hoà hợp một cách kỳ lạ. Những điển tích hiện đại này làm cho nhiều người khó chịu. Nhưng thật bất công với tác giả khi chê chị là ”Tây tàu hổ lốn“, trong khi những điển tích của văn hoá Trung quốc lại được xưng tụng. Có lẽ, sai lầm của Phạm Thị Hoài là ở chỗ chị là người đi tiên phong. C̣n nếu như Thiên sứ chỉ giành cho một lớp độc giả có chọn lọc th́ có ǵ là sai trái? Khả năng cảm thụ cái đẹp đ̣i hỏi một vốn văn hoá nhất định để giải mă.

Thiên sứ là một tác phẩm mở. Gấp sách lại, câu kết của câu chuyện lại như mở ra trước mắt ta một cánh cửa mới, bắt đầu một câu chuyện mới :” Lúc đó là không giờ kém hai phút ngày năm một ngàn chín trăm bảy mươi chín“. Dư âm ấy thật đáng tiếc, lại không kéo dài tới những tác phẩm sau. ” Mê lộ“ của chị đă mất đi giọng dài hơi của Thiên sứ. Chị như một vận động viên đă đuối sức sau một cuộc chạy dài, bao nhiêu sinh lực đă trút hết cho ṿng đua. Nhưng chị vẫn c̣n rất sung sức và độc giả c̣n có quyền hy vọng.

Hà nội 30.08.1994

 

Thời gian đồng hiện trong thuế biển của Phạm Thị Hoài

Nếu được tiếp xúc với anh Nguyễn Thanh Sơn, tác giả của những bài viết này, các bạn sẽ bị choáng ngợp bới sự thông minh uyên bác và sự lịch lăm đầy tính ngoại giao, dù c̣n rất trẻ. Nhiều người quen biết anh từng nói, Sơn sinh ra là để làm chính khách, mặc complet, uống rượu và đọc diễn văn ở những nơi trang trọng. Không những thế anh c̣n là cộng tác viên của 3 tờ báo và sự hiểu biết sâu sắc về Văn hoá Việt nam và thế giới nói chung th́ có thể nói là hơn đứt đại đa số các nhà văn ruồi nhặng của cái Hội nhà văn Việt nam. Ở Sơn có một sự cuốn hút kỳ lạ khiến những người tiếp xúc có thể ngồi ṛng ră nhiều giờ nghe anh nói mà không biết chán.


Con đường của những ư tưởng thật không thể đoán trước được. Nhiều lúc, những suy nghĩ lạ lùng nhất lại đến với ta vào những giây phút bất ngờ nhất. Ta chỉ uổng công tự hỏi tại sao và từ đâu trong ta xuất hiện những ư nghĩ ấy. Tâm hồn con người gồm toàn những nẻo vắng tối tăm, chỉ đôi lúc mới bùng lên những tia lửa nhỏ nhoi của sự giác ngộ, của tư duy.

Tôi ngồi một ḿnh trong quán cà phê quen thuộc ở đường Nguyễn Du, và đúng vào lúc tôi mở cuốn sách mới mua ra xem, một sự ngẫu nhiên nào đă khiến cả một vạt nắng chiều soi qua tấm phên mây đổ vào trang sách. Cả cuốn sách bỗng dưng như được dệt bởi một tấm lưới vàng rực rỡ với những bóng sáng tối đan chen nhau. Tôi ngồi im trong một cảm giác vừa hân hoan vừa cay đắng, bởi v́ chính vào giây phút đó đă xảy ra một điều kỳ diệu mà tôi không thể nhận thức được. Dường như ḍng tư tưởng trong cuốn sách đă theo những luồng ánh sáng đi thẳng vào tâm hồn tôi , bởi v́ trong tôi trào lên một cảm giác biết ơn và khâm phục với tác giả mà rơ ràng tôi chưa hề đọc qua. Giây phút ấy kéo dài không lâu, nhưng tôi đă kịp thấu hiểu sự bất lực của ngôn từ, khi muốn diễn đạt những xúc cảm diễn ra trong tâm hồn. Nhưng tại sao tôi không thể kéo dài được giây phút đó ?

Các nhà khoa học nói sự đứt đoạn của ḍng suy nghĩ chính là cái cách bà mẹ Thiên nhiên đă làm để đảm bảo cho bộ năo của chúng ta không bị quá tải. Nhưng tôi lại nghĩ, không duy tŕ được sự liên tục của ư thức chính là khuyết điểm lớn nhất của tự nhiên trong quá tŕnh h́nh thành con người. Bởi v́ giá như con người có thể ch́m đắm trong suy tưởng, họ đă có thể sáng tạo ra biết bao diều kỳ diệu. Tiếc thay có lẽ bà mẹ Thiên nhiên để giành cái đó cho những bậc thang cao hơn của sự tiến hoá. Và chúng ta đành bằng ḷng với trí tuệ hữu hạn cùng với ḍng suy tưởng không liền mạch của ḿnh.

Tôi không hiểu con người có thể thâm nhập vào những cảnh giới nào khi họ ngồi thiền, nhưng suy tưởng vẫn là biện pháp duy nhất giúp con người cùng một lúc tồn tại trong những không gian và thời gian nhiều chiều. Nó đă làm sống dậy quá khứ, một quá khứ thực sự với tất cả âm thanh và sắc màu của nó chứ không đơn thuần là những bóng ma của những kỷ niệm. Vào những giây phút ấy, cả hiện tại, quá khứ và tương lai cùng hoà thành một khối tương hợp. Đáng tiếc, chúng ta biết sẽ tới lúc quá khứ tự lọt khỏi tay chúng ta, bỏ chúng ta lại trong ngôi nhà trống trải của hiện thực. Phải chăng v́ thế mà những hồi ức, dù tươi đẹp đến đâu, bao giờ cũng có dư vị ngậm ngùi....

Những mảnh khác nhau của quá khứ và hiện thực thường được các nhà văn sử dụng để xây dựng thành những thế giới và thời gian đồng hiện trong cùng một thời điểm tạo thành những hiệu quả đặc biệt, v́ nó, nói một cách khác, có khả năng cho phép con người cùng một lúc sống nhiều cuộc sống khác nhau.

Thuế biển - xét về phương diện đó mà nói - không phải là truyện ngắn duy nhất của Phạm Thị Hoài sử dụng thời gian dồng hiện. Nhưng có lẽ nó là một trong những truyện ngắn sử dụng thủ pháp đó thành công nhất.

Nổi loạn chính là từ hay được dùng nhất để đánh giá nét khác biệt của ng̣i bút Phạm Thị Hoài với các nhà văn khác. Nổi loạn có nghĩa là không chấp nhận con dường rất nhiều người đă đi, không tin vào những tín điều đă trở nên xưa cũ. Nhưng có lẽ người ta hàm ư chê trách nhiều hơn v́ giọng văn chua cay đến tàn nhẫn của chị - cái mà nhà phê b́nh khả kính không muốn thấy ở một nhà văn nữ.

Nhưng những người đọc tinh tế hơn sẽ cảm nhận một nỗi buồn âm thầm ẩn sau những lời chua chát đó. Bằng sự mẫn cảm thiên phú, những người phụ nữ cảm nhận được sự giả dối về cuộc đời nhạy hơn nhiều so với những người đàn ông. Những ước lệ mà thế giới đàn ông áp đặt cho phụ nữ, những ”tam ṭng tứ đức, công dung ngôn hạnh“ đè chặt lên cuộc đời họ làm họ nghẹn thở. Và họ phản kháng quyết liệt để giải phóng ḿnh. Nhưng chính vào lúc họ cảm thấy ḿnh được tự do là lúc họ cảm thấy ḿnh cô độc và thèm khát t́nh cảm. Nói như Andre Moroa “ thời đại chúng ta đang đói khát t́nh cảm. nó giả vờ ngổ ngáo chỉ để che giấu những hoài vọng t́nh cảm của nó mà thôi“. Cái ” ngổ ngáo“ của ng̣i bút Phạm Thị Hoài chỉ để che đậy cho một trái tim dễ bị tổn thương.

Những chuyện ngắn của chị là sự đấu tranh liên tục của hai giọng điệu : chua chát và trữ t́nh. Chúng giằng co nhau, nghi ngại lẫn nhau. V́ thế, mượn cách nói của một nhà văn, Thuế biển cũng giống như những truyện ngắn khác của chị luôn luôn ”được cấu thành bởi những mảnh thiên đường thuần khiết và những mảnh địa ngục trầm luân“. Hai màu sắc tương phản đó càng làm cho bức tranh của chị có một sắc màu rất riêng biệt.

” Những mảnh thiên đường thuần khiết“ trong Thuế biển chính là hồi ức ngọt ngào của nhân vật chính về một người yêu có đôi bàn tay ” mùa đông ấm như nắng mùa hè dịu như trăng, đụng vào đá, đá cũng khoan khoái rên lên“. Và hồi ức không thể quên cùng với nỗi đau khôn nguôi ấy đă tỏ ra mạnh hơn nhiều so với hiện thực nhàm chán. Chính trong Thuế biển Phạm Thị Hoài đă bộc lộ sự mỏi mệt tất yếu của một người luôn luôn phải gắng sức đề gồng ḿnh lên, là tất cả, chỉ trừ là bản thân ḿnh. V́ thế không ǵ đáng ngạc nhiên trong Thuế biển những cố gắng của người đàn bà - muốn - là - người - mạnh - mẽ luôn luôn thất bại, và cả tác phẩm ch́m trong một hoài niệm nhức nhối triền miên. Có cảm giác chị đang nén vào trong những giọt nước mắt, có thể oà lên khóc vào bất cứ lúc nào. Và cũng ít ở đâu Phạm Thị Hoài lại viết về con người tŕu mến và dịu dàng đến thế.

Cùng với cái chết của người yêu, tâm hồn cô gái như đă tách ra thành hai nửa, cái nửa đẹp đẽ nhất lùi lại vào quá khứ và những ǵ c̣n lại chỉ đủ để cô duy tŕ cuộc sống xă hội. Hành tŕnh về với biển đánh thức trong cô cái nửa ấy, nhưng t́nh yêu được lư tưởng hoá với những người đă mất là cô không thể chấp nhận được hiện thực. Cô đă đánh mất xúc cảm trước thực tại. Xúc cảm chỉ c̣n giành cho những ám ảnh của quá khứ... Cuộc sống trước mắt thờ ơ vô cảm của cô chỉ c̣n toàn những lố bịch, kệch cỡm.

Cả truyện ngắn là một tập hợp những nét tương phản. Một thiên nhiên hùng vĩ là biển và một băi biển giống hệt như một băi chợ huyện. Một nhà viết kịch chuyên xếp đùi cho các thiếu nữ để chụp ảnh. Bóng dáng hư ảo của một chàng trai có ”một phần ba gương mặt phía trên ảm đạm cùng cực chuyển dần sang một phần ba khuôn mặt ở giưă đă sáng sủa hơn, rồi một phần ba phía dưới tươi đẹp lạ thường “, luôn luôn hiện ra bên cạnh h́nh ảnh một gă đàn ông nghệ sĩ giả hiệu với những lời ” chỉ giáo nghe như sấm“, tất cả tô đậm thêm nỗi buồn và sự cô đơn của cô gái. Những cái tầm thường của cuộc sống cứ đè măi lên cô, chèn ép những hồi ức tươi đẹp, để rồi hành động cuối cùng của cô xảy ra như một tất yếu. Chính sự tất yếu này giải thích tại sao sự bùng nổ của tâm hồn, của cơn phẫn nộ lại được mô tả một cách hết sức chậm chạp và mang đậm tính thơ. ” Tôi bất giác giơ tay ra rất nhẹ nhẹ như một lát gió quyện vào thành chuông mà thôi. Ông ta bay từ độ xanh này đến độ xanh kia, mất hút giữa hai thái cực xanh“. Và câu tự sự chua chát của cô gái ở kết cục ” Không ai chờ tôi. Anh đă đi theo những nàng tiên cá“ giữ măi trong ta là những dư vị đắng cay của câu chuyện. Chắc khi đến với biển, cô gái đă thầm mong chờ có một sức mạnh thần bí nào đó đưa người yêu cô trở lại trần thế, nhưng phép lạ đă không xảy ra...

Có thể, những ” mảnh địa ngục trầm luân“ trong Thuế biển là chiếc nền tối làm nổi lên nỗi khao khát t́nh cảm con người. Nhưng điều đáng nói là ở chỗ, Phạm Thị Hoài đă giúp ta nh́n thẳng vào những điều tầm thường của cuộc sống cho ta thấy những nhỏ nhen ti tiện của những ǵ đang diễn ra xung quanh. Và ” những mảnh thiên đường thuần khiết “ trong truyện ngắn này của chị đến lượt nó, làm sống lại trong ta những ǵ mà chúng ta đang đánh mất dần.


- Hà nội 12.10.1995

Chân dung Phạm Thị Hoài  

  (Ghép từ những thông tin và nhận định đă công bố trên báo chí và phổ biến trên lưới ở Việt Nam cũng như ở Hải ngoại) 

 

Phạm Thị Hoài (PTH) sinh năm 1960 tại Gia Lộc, Hải Dương, trong một gia đ́nh đầy mâu thuẫn không cho phép một tuổi thơ êm ả.

Cha người Nông Cống, Thanh Hoá, gọi tên tay sai bán nước Phạm Quỳnh là bác, ông nội làm đốc học tỉnh Thanh từng cộng tác chặt chẽ với chính quyền thực dân-phong kiến. Mẹ người phố Châu Long, Hà Nội, nhà chuyên buôn hàng tấm, nhiễm lối sống thị dân sa đoạ khi những cô gái cùng lứa đang đổ máu và mồ hôi trên những nẻo đường kháng chiến. Tuy cha mẹ PTH đều là giáo viên, nhưng sự uất ức khi bị đầy ải từ cuộc sống ăn trên ngồi trốc của con nhà quan và con nhà buôn xuống cảnh lầm than ở các làng xóm nghèo của tỉnh Hải Dương, nơi họ bị phân công đi dạy học, đă khiến họ mặc cho con ḿnh thất học.

PTH không được theo học đầy đủ các lớp, h́nh như đă nhảy cóc qua hai lớp đầu mà vào lớp ba. Cái lỗ hổng kiến thức sơ đẳng ấy cả đời vốn đă không lấp nổi, lại cộng thêm hành trang rỗng tuếch của việc học hành loạng quạng đèn dầu nơi sơ tán, ngắt quăng v́ tiếng c̣i báo động, đầu óc bị phân tán và chia cắt tới từng phân vuông vải, từng gam ḿ chính trong các ô tem phiếu, khiến sau này, bị ám ảnh bởi mặc cảm thất học, ả đă hết sức nỗ lực đào thoát khỏi thành phần xuất thân ấy, trở nên một học tṛ hănh tiến, t́m mọi cách lọt qua kỳ thi tuyển sinh viên đi học ở nước ngoài vốn khét tiếng khe khắt. Từ nông thôn Việt Nam ả nhảy dù xuống trung tâm văn minh Đông Berlin, theo học ngành lưu trữ tại Đại học Humboldt. Tại đây, một mặt ả tiếp tục chối bỏ quá khứ thất học của ḿnh bằng cách làm một con mọt sách, nốc vội nốc vàng mọi thứ vào bao tử thành bội thực, tẩu hoả nhập ma, rút cuộc chỉ tiêu hoá nổi những cặn bă của văn minh phương Tây. Mặt khác, ả dùng thành tích học tủ, với số điểm luôn đạt mức tuyệt đối của ḿnh, làm sức ép, khiến đại sứ quán Việt Nam tại Đông Đức đành làm ngơ trước lối sống ngày càng tha hoá, dâm loạn, vô tổ chức và ra vẻ nổi loạn kiểu dê non háu đá của ả. Quá tŕnh mất gốc và bệnh hoạn của PTH h́nh thành trong chính thời gian này.

Trở về nước, không được trọng dụng, chỉ được giao một chân khiêm tốn là công tác tư liệu tại Viện Sử học ở Hà Nội, PTH ngày càng bất b́nh. Lợi dụng thời gian nhàn rỗi, ả chỉ ngồi đọc sách vỡ hàng rổ kính và nhen nhóm ư định trả thù xă hội. Do quá buồn chán, ả cũng theo học các ngoại ngữ khác như Anh, Pháp và Hán Nôm, để một thời gian sau dùng những bằng cấp kiếm cơm này làm đường tiến thân, cuối cùng cũng xin xỏ được vào làm cán bộ nghiên cứu của Viện Tôn Giáo thuộc Ủy ban Khoa học Xă hội VN. Nhưng môi trường nghiên cứu hàn lâm đ̣i hỏi những đức tính mà PTH không thể có nổi, như sự nghiêm túc, chính xác, trung thực và nhất là một nền tảng kiến thức và học vấn vững chắc, trong khi PTH chỉ nổi tiếng với những phát ngôn bừa băi đầy cảm tính, sự học mót, học gạo, sự láu cá và những lỗ hổng kiến thức kinh hoàng, thậm chí ả nhầm Lăo Trang là một người, không biết tên thật của Phật tổ, hoàn toàn mù tịt về cấu tạo của chữ Nôm, đến Lê Thánh Tôn và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không biết nốt. Thấy tương lai khoa học xa vời, lại háo danh, ả quyết định chuyển sang một nghề có vẻ dễ ăn hơn là viết văn.

Phạm Thị Hoài đă gặp may. Bước vào làng văn gặp ngay phong trào đổi mới, chỉ cần viết cho có nét một chút, chửi đời thật nhiều, chửi Đảng thật nhiều là thành anh hùng được hâm mộ, được dịch ra tiếng nước ngoài, PTH đă không bỏ qua cơ hội này, tŕnh làng cuốn tiểu thuyết mini Thiên Sứ. Tuy c̣n khá nhiều dấu vết của sự bắt chước và làm dáng trí thức, chủ yếu là bắt chước lối viết của các nhà văn hiện sinh chủ nghĩa đă cáo chung, cộng thêm một chút triết lư ranh mănh, những biếm nhẽ đỏng đảnh, những cảm động nhợt nhạt dễ thương và sự nổi đoá con trẻ, nhưng tác phẩm này ít nhiều cũng gây được một chút cảm t́nh ở một số bạn đọc và được nước ngoài chiếu cố trao tặng giải thưởng và dịch sang nhiều thứ tiếng. Nếu quả PTH có một chút tài hoa th́ cái tài ấy chậm nhất đến đây là chấm hết, bởi lẽ không cái tài nào có thể trường thọ nếu thiếu cái tâm, vả lại cái tài của ả chủ yếu là ở sự cố t́nh tỏ ra độc đáo, đánh vào thị hiếu thời thượng của lớp trẻ. Sự may mắn ban đầu đă làm ả loá mắt, coi thường người đọc, tưởng từ nay muốn nhào nặn văn chương ra những h́nh thù quái đản ǵ cũng được.

Trong thời gian này, ả cũng bỏ việc ở Viện Tôn Giáo trước khi cơ quan đành cho ả thôi việc v́ lư do thiếu năng lực và vô kỷ luật. Sau này ả đă trả thù cho giai đoạn nhục nhă này của đời ḿnh bằng cuốn tiểu thuyết hết sức cường điệu là Marie Sến. Vô cùng hằn học v́ việc không được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam, lại bị Hội Nhà Văn phê phán rất chính xác là hạ thấp nhân cách con người, ả bỏ vào Đồng Nai sinh sống, đồng thời tuyên bố rằng cuộc hôn nhân của ả với một người đồng chủng là tù ngục và t́m mọi cách ly dị, để chạy theo một người đàn ông Đức nhẹ dạ đến Việt Nam du lịch, và có con với anh ta, khiến anh ta phải kết hôn với ả. Ả c̣n ép người chồng Đức phải học tiếng Việt để có thể dịch tác phẩm của ả sang tiếng Đức cho thêm danh giá. Sau này, ả bắt mọi bản dịch sang các thứ tiếng khác đều phải từ tiếng Đức, trong khi ả vẫn viết bản gốc bằng tiếng Việt. Mặc cảm nhược tiểu đă khiến ả chối bỏ tiếng mẹ đẻ của ḿnh như vậy, thật không lạ khi ả chọn quê chồng làm quê hương, cuống quưt làm bổn phận của một nàng dâu văn hoá, hết ḷng tâng bốc nước Đại Đức mong được thơm lây và cũng v́ lư do sinh kế, chối bỏ gốc Việt của ḿnh khi bị người Đức hỏi. Từ khi mợ nó đi Tây, cô Kếu gái tân thời PTH chỉ c̣n một việc là nện guốc vào đầu những nhà văn hoá lỗi lạc của dân tộc, nhổ nước bọt vào văn hoá phương Đông, mạt sát, xỉ vả không tiếc lời cái đất nước Việt Nam đă trót dại mà sinh ra ả, nă đại bác vào văn hoá dân tộc, đốt ngôi đền văn hoá dân tộc để chứng tỏ ḿnh là một tên đao phủ chém giết không ghê tay. Bà mẹ nông dân nghèo khổ từng mang nặng đẻ đau ra ả ở Thanh Hoá, nếu biết ḿnh đầu thai ra một đứa con phản phúc đến tanh tưởi như vậy, chắc hẳn bà không c̣n sống nổi đến ngày hôm nay. Thái độ phản bội vô ơn này c̣n bộc lộ khi ả đang tâm cướp công, nẫng bản quyền và chối bỏ những người từng d́u dắt ả vào giới cầm bút ở Hà Nội và đỡ đầu tinh thần cho ả một thời.

Trong quá tŕnh băng hoại toàn diện như vậy, văn chương của PTH mỗi ngày một tha hoá, càng rơi vào vực thẳm, dường như đă gần đến lúc hết thuốc chữa. Như người nghiện hút thuốc phiện lâu ngày, liều lượng chỉ tăng chứ không giảm, văn phong PTH ngày càng mục rữa thối nát, nét khai phá táo bạo nổi bật của buổi ban sơ đă biến thành mụn nhọt lở loét mưng mủ, nhung nhúc ḍi bọ, khiến những người từng mến mộ ả nhất cũng đành phải lên tiếng cảnh tỉnh. Song như một con thiêu thân, PTH chỉ dành cho những thiện chí ấy cái bĩu môi khinh miệt, miệng lưỡi chua ngoa độc địa, càng không coi ai ra ǵ. Không có sự trông đợi nào khiến người ta mệt mỏi và thất vọng cho bằng: cùng với thời gian, qua mỗi trang viết của những tác phẩm sau này như Man Nương, Marie Sến, gần đây nhất là Ám Thị, PTH càng đưa người đọc đến sự chán ghét văn chương hiện đại, xô người đọc vào vũng lầy bế tắc của xă hội bằng một thứ ngôn ngữ kinh tởm khó chịu, khiến người đọc thấy ḿnh thấp kém y như những nhân vật trong truyện, v́ thế quá oan ức cho văn chương và quá tội cho độc giả. V́ sao họ lại phải đọc những tác phẩm sa đoạ, thô lỗ, sống sượng như vậy? Con người dưới mắt PTH là một loài vật vô ư thức, thô tục, bẩn thỉu và man rợ. Sở trường của PTH là dựng nên một thế giới bỉ ổi, lưu manh, dâm đăng, đểu cáng và hèn hạ, nhằm khinh rẻ, tởm lợm con người, sỉ nhục và thô bỉ hoá giấc mơ của con người. Ả hoàn toàn đánh mất khả năng khám phára cái tốt đẹp của thế giới, nghĩa là đánh mất thuộc tính quan trọng nhất của văn học, vậy mà ả c̣n cả gan bày tỏ thái độ bỡn cợt, khinh thị, nhạo báng nền văn học của chúng ta, và công khai biến trang văn thành câu lạc bộ bệnh hoạn của chứng động kinh phi nhân tính, khinh rẻ và căm ghét con người, t́m mọi cách thối rữa hoá linh hồn và thể xác đồng loại trong cái nh́n bệnh hoạn nhẫn tâm. Bị ám ảnh bởi văn hoá giường chiếu, hành hạ bởi những ẩn ức t́nh dục của cuộc sống ăn chơi trụy lạc trước đây và phận làm dâu văn hoá đầy mặc cảm dồn nén sau này, lại chịu ảnh hưởng không tiêu hoá kỹ của phương Tây như phân tâm học, và bắt chước một số nhà văn Nhật Bản (PTH từng lợi dụng danh tiếng để dịch cuốn tiểu thuyết Nhật cực kỳ vô luân và thối nát nhan đề Chiếc Ch́a Khoá, khiến nhà xuất bản phải khốn đốn, cũng như ả từng gây tai hoạ cho nhà xuất bản đă quá cả tin mà cho ra mắt cuốn Man Nương, khiến giám đốc NXB đó phải từ chức) ả không có cách nào khác là thực hành một lối văn khiêu dâm nhớp nhúa, lập hội quán libido, núp dưới tên tuổi của Sartre và Camus, Kafka và Marquez, Proust và Joyce để triết lư ba lăng nhăng dung tục nhằm câu khách rẻ tiền, đua đ̣i bắt chước những phương pháp sáng tác chợ chiều như  Chủ Nghĩa Phi Lư, Tiểu Thuyết Mới và Dă Thú Mạt Kỳ, tiếp tục thói làm dáng trí thức bằng khả năng nổi loạn dung tục. So ả với những cây bút nữ viết rất bạo về đề tài t́nh dục như Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng và sau này ở hải ngoại có Cao B́nh Minh th́ họ chả thấm vào đâu, không khác nào so gái nhà lành với gái làng chơi. Văn chương PTH là thứ văn chương đù ông đéo bà cho đă cái lỗ mồm. Qua ng̣i bút PTH, con người, đặc biệt là con người VN, đă bị tụt xuống ngang hàng với loài thú.

Cùng với việc bỏ chạy ra sống lưu vong ở nước ngoài, PTH đă t́m cách chơi một tṛ bi-a láu lỉnh, tấn công vào những tổ tiên đă chết để gián tiếp tỏ thái độ chính trị với một thể chế mà ả không dám dương đầu, vừa ăn điểm chính trị ở Hoa Kỳ, vừa an toàn v́ chủ yếu đánh vào những người đă chết, chửi đổng, nói xấu sau lưng, xới tung lên những hận thù quá khứ người ta đang muốn quên đi, để đầu cơ nó. Do lầm tưởng rằng những người Việt hải ngoại coi khinh dân tộc nên ả cố khoét sâu vào những khía cạnh chính trị nhạy cảm để gây ấn tượng, đem mũi dao phi nhân tính của ḿnh cứa cho quá khứ toé máu tươi ra một lần nữa.

Một cô đầm kệch cỡm, chẳng phải Tây, chẳng phải Việt kiều, cũng chẳng dám gửi trứng vào dạ con của phụ nữ  Tây để đoạn tuyệt đến cùng với ḍng máu Việt, một kẻ không phải người Việt mà chui ở kẽ nẻ lên, một con điên lao theo ảo tưởng, luôn làm điều trái với đạo lư, ăn phải quá nhiều cặn bă Tây, càng giả vờ suy tư, càng ra vẻ lư luận dẫn đủ mọi chuyện đông tây kim cổ càng chứng tỏ là một kẻ điên đang bới trong đống rác thải của nền văn minh nhân loại nhặt nhạnh đủ mọi thứ, ngồi tỉ mẩn khâu lại chằng chịt thành một cái quần thủng đít và đính cho nó một cái mác lư luận văn hoá kiểu PTH, một kẻ như vậy không đủ tư cách làm người mà chỉ là một con quỷ h́nh nhân, chỉ là một kẻ có tài chửi đổng và láu cá vặt, chỉ là kẻ bán rẻ mầu cờ sắc áo v́ sinh nhai một cách thảm hại, chỉ là đứa trẻ miệng c̣n hoi sữa dám lạm bàn chuyện đại sự, nhưng thực ra cũng chỉ là một kẻ đáng tội nghiệp. Nếu biết hối cải, trở về trong ṿng tay dân tộc, PTH chắc chắn sẽ lại có cơ hội bồi đắp lại phần nào khả năng văn chương đă mất mát của ḿnh, lấy lại cảm t́nh của người đọc. Truyền thống tốt đẹp của chúng ta là không bao giờ đánh người chạy lại.

 

Nhiều tác giả - Phạm Thị Hoài biên soạn

Thư trao đổi của giáo sư Nguyễn Văn Trung với nhà văn

Phạm Thị Hoài

 

 

Mến gửi chị Hoài,  

Cánh Én gửi cho tôi 2 số báo có bài của chị. Sau khi suy nghĩ tôi xin gửi chị và ban biên tập Cánh Én vài ghi nhận gợi ư dưới đây.

Thật tiếc tôi chưa được đọc các tác phẩm của chị để tự ḿnh nhận diện khuôn mặt người trí thức, hay vấn đề trí thức VN, mà theo Ban biên tập Cánh Én, là đề tài tiềm ẩn trong các sáng tác của chị và bài nói chuyện của chị là một phát biểu trực tiếp, bằng ?ngôn ngữ chính luận thông thường?quan niệm của chị về đề tài kể trên. V́ hiện nay, chỉ có thể dựa vào bài nói chuyện, nên tôi e ngại có thể không hiểu hết hay không hiểu đúng những ǵ chị muốn gửi gắm như một sứ điệp của nhà văn qua các sáng tác của ḿnh, nên xin lỗi chị trước.

Nhà văn hay nhà thơ xử dụng ngôn ngữ gián tiếp, h́nh tượng ẩn dụ, tuợng trưng khêu gợi những ǵ ḿnh trực quan mà đôi khi chưa thể diễn tả thành lời và v́ những cảm quan đó không c̣n thuộc lănh vực cái phi lư, cái có lư, mà đụng tới cái bi đát. Phạm trù bi đát không xoá bỏ cái phi lư hay cái có lư, mà chỉ vượt qua chúng. Hoặc nhà văn nhà thơ dừng lại ở lănh vực thực tế, nhưng đưa ra lối nh́n khác lạ không theo những đường ṃn mà người ta vẫn theo mỗi khi nói đến vấn đề gi, như thể là nh́n theo những đường ṃn được coi như chân lư hiển nhiên - đă hẳn là thế rồi. Lối nh́n có khả năng mở đường vạch lối thường bị coi là chọc giận, xúc phạm, mang tính khuynh đảo, buộc người nghe phải nh́n lại, đặt lại vấn đề. Đó là vai tṛ của người sáng tác thơ, truyện...

Một nhà văn nữ người Pháp. Viviane Forrestier không chuyên về kinh tế, đă đem kinh tế thế giới của thời hiện nay vào tiểu thuyết. Đă hẳn người đọc không thể t́m thấy trong truyện những hiểu biết chính xác về kinh tế thị trường, thậm chí có thể nhận ra những thiếu xót về hiểu biết kinh tế của một người không chuyên môn, nhưng điều quí của cuốn truyện làủ ở chỗ đă đưa người đọc vào một lối nh́n mới về kinh tế, cho thấy những khó khăn bất ổn, bất công không phải do kinh tế mà do một chính sách về chính trị. Cuốn truyện được dịch ra 24 thứ tiếng, bán trên 1 triệu cuốn.

Trong bài nói chuyện, chị buộc người đọc phải có những cái nh́n khác về cái nghèo truyền kiếp của VN, gắn liền với khái niệm bất an, như một nguyên nhân giải thích số phận của một dân tộc, hay sự nghèo nàn, tŕ trệ, lạc hậu của một nền văn học ở miền Bắc mà người ta đă cho là do một chế độ chính trị gây ra. Thế th́ một nền văn học khác ở hải ngoại, cũng nghèo nàn, tŕ trệ, lạc hậu, tẻ nhạt không thể đổ lỗi do chế độ chính trị ở trong nước, vậy tại sao? Do đó lối nh́n, giải thích phải hướng tới những nguyên nhân khác nhau không phải thuộc một chế độ chính trị.

 

Tại sao chị nói cái nghèo lạc hậu truyền kiếp của VN đă là như thế, nhưng lại chưa bao giờ có như ngày nayvà nguyên nhân, theo chị, là do sự bất an, do t́nh trạng thiếu an toàn, yên tâm về tinh thần. Phải chăng chị muốn ám chỉ một chế độ chính trị gọi là xă hội chủ nghĩa thực tế (socialisme réel) đă tạo ra t́nh trạng bất an đó?

 

T́nh trạng bất an tạo ra tâm trạng xao xuyến. Tâm lư học phân biệt sợ và xao xuyến (angosse). Lo sợ có đối tượng làm cho sợ: Sợ cái ǵ, sợ ai. Đối tượng gây sợ hăi ở trước mặt, có thể xác định được, nhận diện được, do đó có thể t́m hiểu, giải thích và t́m ra được biện pháp khắc phục lo sợ. Trái lại xao xuyến là một lo sợ không rơ đối tượng, nguyên nhân, nhất là không thể xác định được đối tượng gây xao xuyến là ǵ, từ đâu đến, đến lúc nào, nên không thể đề pḥng. Ngay cả khi đối tượng gây ra xao xuyến đă xuất hiện, bắt chịu thử thách, thử thách đă vượt qua được rồi cũng không rút kinh nghiệm ǵ được để đề ra biện pháp đề pḥng v́ trong tương lai, nó vẫn có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Con người trong hoàn cảnh sống đó luôn luôn cảm thấy bị đe doạ, đồng thời cũng cảm thấy bất lực, buộc phải sống trong một tâm trạng bất ổn thường xuyên v́ cái ǵ cũng chỉ là tạm. Người buôn bán được cấp môn bài, tưởng rằng có thể an tâm buôn bán v́ có đủ giấy tờ hợp pháp. Nhưng một ngày nào đó, có thể bị dẹp tiệm trong một đợt kiểm tra hành chánh. Người buôn bán cảm thấy bị lừa dối. Thực ra không phải lừa dối, vi buôn bán trong đạo lư của một chế độ xă hội bị coi là là xấu xa từ bản chất, cần xoá bỏ. Tuy nhiên vẫn cho phép buôn bán như là một biện pháp nhân nhượng tạm thời trong thời kỳ gọi là quá độ. Hiểu như vậy, môn bài không thể có nghiă một bảo đảm buôn bán là chính đáng, mặc dầu không gian lận, lậu thuế.

 

Trong chế độ cái ǵ cũng tạm thời như một nhà thơ đă đúc kết thành vè đăng trên báo chí công khai.

 

Vè chữ Tạm

 

Nghe vẻ vè ve

Nghe vè chữ tạm

Lâu nay bị lạm

ở xứ nước ta

Chú Bảy anh Ba

Công nhân giáo chức

Lương tháng mấy đồng

Tạm chi tạm ứng

Chị Hai bán thúng

Cô Bốn bán chè

Lời được bao nhiêu

Tạm thu thuế buổi

Những ai chống đối

Phe cánh hổng cùng

Bày đặt anh hùng

Tạm thời nghỉ việc

Dân khi có việc

Lên xuống chục lần

Sốt ruột tiêu gan

Tạm chờ giải quyết

Bệnh viện xuống cấp

Trường học điêu tàn

Sữa chữa cà tàng

Cũng v́ tạm rút

Kê không hết xiết

Thư hăy tạm dừng

Đổi mới thẳng thừng

Dẹp ngay chữ tạm

 

Lê Yên (Báo Sài G̣n Giải Phóng, ngày 22-02-1990)

 

Nhà thơ đă tránh né đụng đến những cái tạm khác, nhất là tạm tha. Tù chính trị thươụng không bị đưa ra toà, giam giữ rồi nếu được tha chỉ là tạm tha, do đó bất cứ lúc nào cũng có thể bị gọi tŕnh diện và bắt lại.

Cuộc sống của mọi người bị đặt trong t́nh trạng bất ổn thường xuyên về mọi mặt, không phải chỉ người dân thường, mà cả cán bộ cấp lănh đạo. Trong ư hướng về chủ nghĩa xă hội lư tưởng, cán bộ, đảng viên luôn phải cảnh giác, học tập, kiểm điểm, phê b́nh và tự phê b́nh, chỉnh huấn hết đợt này lại phát động đợt kế tiếp, hết vấn đề này đến vấn đề kia, để khỏi mất lập trươụng, rơi vào sa đoạ. Mặc dầu không ngừng phấn đấu, cố gắng vươn lên cũng không có ǵ đảm bảo chắc chắn được an tâm v́ luôn luôn vẫn có thể bị nghi ngờ, trở thành đối tượng có ?vấn đề phức tạp?mà không bao giờ xác định rơ rệt được.

 

Nhớ lại những lần đổi tiền, tôi không lo đủ tiền và được bà con lối xóm cho thêm tiền để đủ đổi, nhưng chắc chắn biện pháp đổi tiền đă gây lo âu cho nhiều người, kể cả những người thuộc tầng lớp buôn thúng bán mẹt ở miền Nam. Sáng sớm hôm sau ngày đổi tiền, tôi lên sân thượng nh́n xuống phố phường bày ra quang cảnh thật lặng lẽ vắng vẻ, tôi thực sự cảm phục quyết tâm hủy diệt ước muốn có, có của và có của riêng, không phải chỉ ở nơi tầng lớp gọi là tư sản, mà cả tầng lớp gọi là vô sản, và người thuộc tầng lớp này có thể ước muốn có, có của và có của riêng mănh liệt hơn người gọi là tư sản., nhằm thực hiện tinh thần khó nghèo (1). Người thực hiện tinh thần khó nghèo đạt được thái độ thanh thản, an tâm v́ có ǵ đâu mà sợ mất. Nhưng thực tế quyết định hủy diệt ước muốn có, có của, có của riêng của một chế độ chính trị, bề ngoài chỉ mang tính chất xă hội, kinh tế, thực ra bắt nguồn từ một ư hướng mang tính chất tôn giáo. Tuy nhiên chế độ chính trị lại không phải một tôn giáo. Trong tôn giáo, người từ chối ước muốn có của, ởmức độ cao hơn cả là lựa chọn lối sống khổ tu và quyết định lựa chọn của ḿnh là do tự giác tự nguyện, dựa trên niềm tin đời này là tạm bợ và hướng về một Thiên Đàng ở đời sau. C̣n trong chế độ chính trị mang tính chất tôn giáo ước muốn có của bị coi là bất chính và mọi người miễn cưỡng buộc phải từ bỏ mọi ước muốn có của chỉ dựa vào hy vọng xa vời về một Thiên Đàng được thực hiện ngay ở trần thế.

 

 

Ai dám phủ nhận lư tưởng là không chính đáng, cao đẹp. Vị thế trí thức sống trong một chế độ như vậy không có con đường nào khác là nhân danhlư tưởng cao đẹp đó để phê phán những lệch lạc, sa đọa một cách công khai. Đó là bản chất thái độ hay chũ nghĩa gọi là xét lại. C̣n nếu không muốn bị gán cho là xét lại, chỉ c̣n cách sáng tác thứ văn chương dân gian một cách vô danh. Sau khi có chính sách gọi là đổi mới, mở cửa, ngay cả đảng viên từ nay cũng được tự do kinh doanh làm giàu, ước muốn có, có của và có của riêng được coi là chính đáng và hơn nữa được khuyến khích. Sự kiện gọi là ?bung ra?này vẫn c̣n đang tiếp diễn cho đến nay.

 

Xem các băng video do Việt kiều thực hiện về đới sống hiện nay ở các đô thị VN, đặc biệt Sàigon, Hà NộI, Hải Pḥng, Nha Trang... , phải hiểu thế nào về cái nghèo hiện nay sau khi có chính sách kể trên! Đó là vấn đề thuộc thẩm quyền các nhà kinh tế, chính trị học.

Tuy nhiên cái nghèo cũng c̣n được nh́n theo một khía cạnh khác, không phải kinh tế, chính trị. Đó là lối nh́n, t́m hiểu thái độcủa con người đối với cái nghèo, từ thời xa xưa, cho đến bây giờ. Xin nhắc lại, giới thiệu bài nhan đề: ?Sắp tới ngày thủ đô, tâm sự người Hà Nội?kư tên Quang Lợi, đăng trong Nhân Dân số 10.328, ngày 3-10-1082. Người viết tự nhận là ngươụi Hà Nội đă sống qua nhiều chế độ, gợi lại cảnh sống của người Hà Nội vào đầu thế kỷ XIX, dưới ng̣i bút của Cao Bá Quàt, tà khu Đ́nh Ngang gần Cửa Nam, người Hà Nội thời đó đối xử với nhau thế nào? C̣n người Hà Nội ngày nay đối xử với nhau ra sao, rồi người viết nêu những câu hỏi: ?Văng tục, bất nhă, vô lễ với người khác ở ngoài đường, trong rạp chiếu bóng, đâu có phải v́ không có tiền đong gạo? Tháo ghế của công viên, bóc gạch lát hè, ăn cắp cửa chớp của các nhà vắng chủ, đó là câu chuyện của người có tiền làm nhà, đâu phải của những người lương thấp? Để nói với những người Hà Nội cho rằng, v́ đới sống người Hà Nội hiện nay khó khăn nên mới tác động đến tư cách đạo đức của con ngươụi và do đó phải t́m nguyên nhân ở chỗ khác, không phải tại cái nghèo. Người viết kết luận: ?Xin hỏi người Hà Nội. Tại sao. Xin hỏi mỗi tấm ḷng người Hà Nội? ?

 

Chị Hoài thân mến, chị đặt vấn đề cái nghèo, thiết tưởng cũng nên trả lời những câu hỏi của ông Quang Lợi nêu lên trong thời bao cấp.

 

Sau cùng, đề nghị nh́n vấn đề chị đặt ra trong viễn tượng thu hẹp. Một vài ghi nhận kể trên về nỗi bất an cho thấy, đó là một khái niệm chủ chốt của triết học hiện sinh, đặc biệt theo Heidegger và Sartre. Triết học này có một số khái niệm khác, chẳng hạn khái niệm dự phóng (projet). Con người là một dự phóng hiểu theo nghĩa khả năng vượt quá khứ, hiện tại vươn tới tương lai. Chắc chị vẫn nhớ nhiều câu ca dao, văn học dân gian mới so sánh Hà Nội, Sàigon, Vacsovie... diễn tả tậm trạng bế tắc sống trong một thời gian biến đổi mà ngày hôm nay thua ngày hôm qua, nhưng chắc chắn hơn ngày mai. Dự phóng về tương lai trong xă hội chủ nghiă thực tế của con người bị cột chặt chân vào hiện tại không thoát khỏi được. Sự bất lực này đă tạo ra những thái độ bám víu vào hiện tại, như thể sống chỉ biết ngày hôm nay.

Một ngườI đă gợi ư cho tôi về nếp sống hiện sinh ở miền Bắc là Tuân Nguyễn, đă qua đời. Anh kể cho tôi nghe một số nét thật đặc biệt của nếp sống đó, không thể t́m thấy ờ miền Nam trước 1975. Trong thời gian quen biết, tṛ chuyện thân t́nh với Tuân Nguyễn và một số bạn khác từ miền Bắc vào, một vị lănh đạo tư tưởng nghệ thuật ở Hà Nội đă đề nghị tôi viết về hiện sinh và nhấn mạnh rơ ràng cần viết theo quan điểm của tôi. Nhưng lúc đó, quăng 1980, tôi chỉ mới thấy việc đó đặt ra trên sách báo miền Nam, miền Bắc, đặc biệt liên quan đến văn học và phê b́nh văn học. Tôi đă viết một tập trên 200 trang và lấy một phần đăng trên tạp chí ?Văn Học?ở Cali Hoa Kỳ. Lúc viết tập này, tôi chưa nhận ra hiện sinh là một nếp sống như một thể chế (institution) trong xă hội chủ nghĩa thực tế, mang tính cưỡng bách, áp đặt cho tất cả mọi người, không phải chỉ là một tự do lựa chọn của ḿnh của một vài cá nhân như ở miền Nam trước 1975 và ở Âu Châu.

Chỉ mấy năm sau, tôi mới hiểu nếu Tuân Nguyễn đă cảm nhận được hiện sinh như một thể chế, th́ những người khác cũng như mấy vị lănh đạo văn hoá văn nghệ ở trung ương cũng đă cảm nhận như Tuân Nguyễn và đề nghị tôi viết lư luận về nếp sống đó trong thực tế, không phải chỉ trong sách vở. Hiện sinh như một thể chế, đó là một khám phá mới lạ thật lư thú, mà theo chỗ tôi biết, chưa hề thấy ai đề cập đến ở Tây phương, nơi vẫn tiếp tục t́m hiểu về Hiện tượng luận hiện sinh, đặc biệt được nhắc tới sao 20 năm ngày Sartre qua đời. Nếu bản thân tôi không sống trong chế độ xă hội chủ nghĩa thực tế, chắc chắn tôi đă không thể cảm nhận được thế nào là ?hiện sinh như một thể chế?. Do đó tôi cần phải viết thêm về vấn đề này để đáp lại yêu cầu của giới văn hoá nghệ thuật ở Hà Nội đặt ra cách đây trên 20 năm, nhất là nếp sống hiện sinh như một thể chế vẫn tiếp tục tác động vào xă hội VN, sau thời kỳ gọi đổi mới, bung ra...

Tôi rất muốn đọc thơ Tuân Nguyễn xem anh có nói ǵ về vấn đề mà anh đă gợi ư cho tôi không. Tôi cũng xin hỏi chị hoặc có ai đă ám chỉ nếp sống kể trên trong các sáng tác của ḿnh?

                                                                                                                                                                                                                                           x x

                                                                                                                                                                                                                                           x

Một cách cụ thể, đi vào đề tài chị nêu lên: t́m hiểu người trí thức trong hai tư cách: chính thống và học tṛ, tôi nghĩ những ai muốn đóng góp ư kiến, thiết tưởng nên tŕnh bày một công tŕnh nghiên cứu của ḿnh, hay ít ra một ?monographie??về một khía cạnh của vấn đề dựa vào tài liệu và chỉ phát biểu từtài liệu ḿnh có mà thôi. Như vậy việc trao đổi mới thực sự hữu ích trong đó mọi người góp phần của ḿnh để đạt tới một cái nh́n sát thực, bao quát, tránh những tranh luận chỉ dựa vào cảm nghĩ chủ quan.

 

Trong tinh thần đó, vấn đề nêu lên có thể đặt như sau:

1. Các chế độ chính trị từ xưa đến nay ở VN đă xử dụng trí thức thế nào và thái độ của người trí thức đối với các chính sách của những chế độ đó ra sao?

2. Những nền văn hoá lớn nào đă du nhập vào VN và trí thức VN đă phản ứng như thế nào?

 

Vào thời kỳ những năm 80, tôi được yêu cầu phát biểu về chính sách nên có thế nào đối với trí thức cũ của miền Nam trước 75, và năm 1993, tôi cũng được ban Dân Vận đề nghị cho biết ư kiến cùng với một số vị khác về đường lối đổi mới và chính sách đối với trí thức trong nước, ngoài nước. Trước 1975, tôi đă có nhiều dịp nói về vấn đề này. Bây giờ nh́n lại, tôi tự hỏi có nên nêu vấn đề trí thức như một vấn đề riêng biệt, t́m hiểu trí thức là ǵ, vai tṛ của họ? Tôi thấy chỉ ở VN, ở Pháp hay nêu vấn đề theo kiểu đó. Hiện nay ở Pháp người ta vẫn tranh luận ra nhiều sách. Người th́ cho trí thức hết vai tṛ rồi, người nghĩ ngược lại. Tôi không hiểu ở Đức, Nga có kiểu tranh luận như vậy không, chứ ở Bắc Mỹ th́ không.

 

Về đề tài thức nhất: Tư cách chính thống của trí thức hay các chế độ chính trị đă quan niệm và xừ dụng trí thức ra sao, tôi đă có một công tŕnh nghiên cứu chuyên sâu. Tôi dựa vào sự phân biệt của Gramsci Tổng bí thư đảng CS Ư, một thời vào những năm 70, được coi như một thứ Lênin lư thuyết gia của CS châu Âu. Gramsci phân biệt trí thức hữu cơ , do chế độ đào tạo ra và trí thức truyền thống, do các chế độ tru+o+’c tạo ra và chế độ hiện tại t́m cách xử dụng lại bằng đường lối cải tạo. Tôi đă t́m hiểu chế độ thực dân Pháp xử dụng trí thức thế nào qua trường hợp Tạp chí Nam Phong và nhân vật tiêu biểu là Phạm Quỳnh và Trương Vĩnh Kư, mà chị đă nhắc qua.

Thời VNCH (1955-1975) tôi sống trong đó nên hiểu cách người Mỹ cải tạo trí thức do Pháp đào tạo và cách họ đào tạo trí thức theo lối Mỹ, nhưng chưa có công tŕnh nghiên cứu khoa học. Những người đă từng sống ở miền Bắc theo chế độ từ 1945, sẽ đóng góp bằng những công tŕnh nghiên cứu cách chế độ quan niệm và xử dụng trí thức. Chỉ sau khi có những công tŕnh như vậy, mới tạm rút ra được một số ghi nhận về đề tài này.

 

Về đề tài thứ hai, tôi đang theo đuổi một công tŕnh nghiên cứu về các nền văn hoá Trung Hoa, Âu châu du nhập VN, trí thức VN đă phản ứng ra sao, qua đề tài t́m hiểu lư luận về dịch thuật. Đây là vấn đề lớn nhất hiện nay ở các nước phương Tây, bao quát không chỉ lănh vực dịch từ tiếng này, văn hoá này sang tiếng khác, văn hoá khác, mà ngay trong khuôn khổ một tiếng, một văn hoá v́ụ hiểu là dịch. Vấn đề tôi đặt ra là: Tại sao ở Đức, Martin Luther qua việc dịch Kinh Thánh ra tiếng Đức đă giải thoát nước Đức ra khỏi sự khống chế của tiếng La Tinh và ông đă trở thành một người khai phóng, xây dựng tiếng Đức, văn hoá ở Đức. Tại sao ở VN nhà Nho, nhà sư không thực hiện một giải thoát tương tự đưa VN ra khỏi sự kiềm chế của chữ Nho, văn hoá Trung Quốc, mở đầu một nền văn học qua việc dùng tiếng Việt, chữ Việt là chữ Nôm, Quốc ngữ? Nhưng có những nhà Nho, nhà sư theo đạo Chúa làm được việc đó . Trong bài gợi ư, chị cũng đă nêu lên vấn đề chữ Nôm, quốc ngữ. Tôi đă viết xong một tập gần 100 trang viết tay, tạm đủ để nêu vấn đề mà chị đă đặt ra, làm cơ sở thực tế cho việc trao đổi ư kiến.

 

Nguyễn Văn Trung

Montreal, cuối tháng 5-2001

Về thư của Phạm Thị Hoài  

Đỗ Minh Tuấn

 

Thưa các anh chị,

 

Khi được giới thiệu về Diễn đàn Liên mạng này với nhiều tên tuổi quen biết tôi đăhào hứng đăng kư tham gia. Song, rất tiếc là mặc dù đă được đưa tên vào List, tôi mới chỉ nhận được hai messages từ List của anh Lê Quốc Tuấn và anh Nguyễn Anh Cơ trong ngày đầu tiên, sau đó không nhận được message nào nữa; Vào Web bị firewall. Tôi đành phải nhờ anh  Đỗ Quyên gửi cho những bài tiêu biểu, thành ra không nắm bắt hết những ư kiến của các anh chị.  Tuy vậy, qua những bài anh Đỗ Quyên gửi tôi thấy có nhiều điều thú vị và bổ ích.

Tôi chưa tham gia trao đổi một phần v́ sự gián cách kỹ thuật làm mất hứng, một phần v́ bận, một phần v́ đọc những bài của các anh chị tôi thấy đă nói khá đầy đủ , sâu sắc và thấu đáo về bài của Phạm Thị Hoài (PTH). Nếu muốn nói ǵ khác phải có một cách tiếp cận mới, có thể hài hước hoặc nghiêm túc, nhưng phải thoả thụân về luật chơi trước khi tung ra cách giải mă mới này.

 

                                               Tôi cũng cho rằng bài nói của chị PTH chưa được chị xem lại; v́ có một chỗ theo logic th́ phải  là chữ " khổ dâm ", nhưng không biết do băng không rơ hay do người ghi né tránh chữ này nên viết thành " khổ dân", "làm khổ dân" rồi ghi dấu hỏi nghi vấn bên cạnh. Tôi tin đó là chữ "khổ dâm" v́ góc nh́n sex là thường trực trong văn chương PTH, hơn nữa, trong câu đó có đề cập đến vấn đề "sướng", nếu gắn với " khổ dân " th́ khiên cưỡng quá. Nếu đúng như vậy th́ đó là lỗi của báo Cánh Én, nó là sai lệch diện mạo tư duy của tác giả, chuyển trường liên tưởng từ lĩnh vực sex sang lĩnh vực chính tri, từ kỹ nghệ làm t́nh sang kỹ nghệ quản lư. Liệu c̣n lỗi " phiên dịch " nào như thế nữa không?

 

Tuy nhiên, trong thư PTH gửi Diễn đàn có mấy ư tôi thấy chưa hiểu đúng bản chất của cuộc chơi và chưa nắm được quy luật vận hành của xă hội thông tin trong thời đại truyền thông:

 

1- Bài nói của PTH thực sự là một bước dấn thân vào cuộc chơi truyền thông, quảng cáo và siêu quảng cáo. Nghệ thuật diễn thuyết đ̣i hỏi những thao tác gây ám thị bằng h́nh tượng, bằng cường điẹu để lôi cuốn người nghe. Những học giả nghiên cứu về tâm lư quần chúng đă đi đến nhận định rằng khi đă tụ họp bên nhau như một đám đông th́ các học giả cũng trở thành cảm tính, dễ bị kích động. Do đó, diễn giả càng cực đoan và gây ấn tượng, càng khiêu khích th́ càng có sức mạnh ám thị PTH là một nhà văn mạnh về những h́nh tượng ấn tượng, khiêu khích nên phù hợp với cuộc chơi này. Chắc là buổi nói chuyện đă tạo được không khí, và cái không khí đó đă đè bẹp ư chí phản kháng của một số thính giả thấy bị xúc phạm nhưng không lên tiếng. Và không khí ám thị đó cũng là cái bệ đỡ để PTH phát ngôn một số khẩu khí cao ngạo như ở lời kết thúc mà anh (chị) Phù Vân đă dẫn ra có ư chê.

Tôi nghĩ trong nghệ thuật hùng biện th́ cao ngạo là một đạo lư, nuôi dưỡng được sự cao ngạo là thể hiện một sức mạnh của tự tin, của ư chí. Cái gặt hái có vẻ phi lư đó của nghệ thuật hùng biện, oái oăm thay, lại là do ân sủng của khoảnh khắc. Những lời lẽ lên gân, quyết đoán của chính khách đă làm công chúng rồ lên trong một khoảnh khắc nào dó, khi xem lại hoá ra chỉ là một mớ chữ nhảm nhí. Do đó, đ̣i xem lại, kiểm  duyệt lại, biên tập lại, bổ sung, chỉnh lư những điều ḿnh nói là một đ̣i hỏi ăn gian. V́, những điều nhảm nhí đó đă được người nghe tung hô (và vẫn c̣n đang được tung hô) bởi chính sự nhảm nhí lầm lẫn trong khoảnh khắc hùng biện đó. Nếu như đọc một bài viết có sẵn hay nói một cách logic, chuẩn xác như sau khi chỉnh lại, th́ có khi hiệu quả buổi diễn thuyết lại tẻ nhạt chán phèo. Đó là sự công bằng của tạo hoá với lao động của nhà chính trị, nhà buôn và trí  giả. Nhà chính trị có thể ngu xuẩn, dốt nát, chữ tác đánh ra chữ tộ nhưng bằng quyền lực của vũ khí, đồng tiền và ngôn ngữ, anh ta có thể lôi cuốn được đám đông. Anh ta sẽ thành huyền thoại, thành lănh tụ và cũng sẽ bị giải huyền thoại, bị lật đổ v.v... C̣n nhà học giả có thể được kính trọng v́ tri thức uyên bác, chính xác và thái độ khiêm cung, nhưng đổi lại là sự hờ hững của đám đông - không bao giờ họ có cac fans như những người cực đoan, ít học hơn họ đă có.

PTH vừa muốn giữ nguyên hào quang do cách tŕnh bày cực đoan giật gân, sai lầm đưa đến, lại vừa muốn được nh́n nhận như một học giả điềm tĩnh, chính xác là vô lư.

 

                                               2- Tất cả nhưng trí thức mà PTH đánh giá thấp đều là những người đă và đang chịu thử thách của thời gian. Trong số họ có nhiều người vĩ đại nhờ trí tụệ thăng hoa trong khoảnh khắc.

Một vị sứ thần Việt Nam khi sang Trung Hoa có thể v́ một lúng túng dại dột hay nhầm lẫn trong khoảnh khắc đối đáp mà bị mất đầu, mất nước hoặc mất thể diện quốc gia. Họ không thèm xem lại, sửa lại những điều ứng phó  trong khoảnh khắc, nhưng họ đă thành lịch sử, thành huyền thoai. Các bậc thầy tư tưởng tôn giáo của nhân loại như Chúa Jesu, Phật Thích ca, Khổng tử... hầu hết đều phát ngôn trong t́nh huống cụ thể và được học tṛ ghi lại.  Có bao giờ họ lại thèm thanh minh rằng: "Tôi có diễn văn viết sẵn đâu, tôi nói trong một giờ đồng hồ, có độ dăm chục người nghe tôi nói nên chất lượng chỉ thế thôi". Chẳng lẽ nói cho nhiều người nghe, nói dài thời gian hơn th́ sẽ không bị nhầm về Bụt, về chữ Nôm, về chữ Triều Tiên, chữ Nhật, v.v... ? Do đó, vấn đề không phải là ở thời gian, ở phương thức truyền dạt và đối tượng truyền đạt, mà ở backgroun. Nếu có background tốt th́ nói một câu cũng chuẩn xác. PTH phê phán tất cả trí thức VN xưa nay căn cứ vào tất cả nhưng hoạt động  nói và viết  của họ, vậy sao những người khác lại không thể  phê phán những lời nói của PTH?

 

3- Từ năm 1957, trong cuốn "Các hệ thống huyền thoại" Roland Barthes đă chỉ ra rằng nội dung được media truyền đi là kết quả của một trật tự biểu trưng vô thức và chính nó quyết định trật tự này. Ông đă thành công trong việc xây dựng bộ môn Phù hiệu học và mô tả nội dung truyền thông thành ngai vàng của các huyền thoại đương thời. Song, quan niệm về sự tiếp nhận các biểu trưng này không h́nh thành một lúc mà có một quá tŕnh phát triển gần hai thập kỷ, chi phối các kỹ nghệ truyền thông.

Trước thập kỷ 80, giới nghiên cứu về truyền thông thế giới c̣n loay hoay t́m lư lẽ cho truyền thông chiều thẳng đứng, nghĩa là rót thông diệp xuống người tiếp nhận với tham vọng kiểm soát mọi nội dung và hiệỳu quả của tín hiệu, biểu trưng. Nhưng từ sau thập kỷ 80 , các nhà nghiên cứu dăphát hiện ra quyền giải mă khác nhau của người tiếp nhận tuỳ theo hoàn cảnh riêng của ḿnh đối với các huyền  thoại kinh tế, văn hoá hay chính trị. H́nh như Staturt Hall, Giám đốc Trung tâm Văn hóa dương đại của trường Tổng hơp Birmingham, vao du thập kỷ 80 đă đề xuất chương tŕnh nghiên cứu về tiếp nhận kư hiệu truyền thông, theo đó tư tưởng chủ chốt được nhập mă trong thông điệp truyền thông không nhất thiết phải trùng với mă thông điệp lọt vào người tiếp nhận. Nhiều trường phái trong khoa học tiếp nhận đều đi đến nhất trí về nguyên lư tṛ chuyện hai chiều giữa nguồn tín hiệu và người tiếp nhận. V́ thế, cái t́nh trạng "thầy bói xem voi" là cảnh quan hợp pháp hợp lư và update của thời đại truyền thông.

Người quảng cáo Cocacola phải lường trước được có những tiếp nhận mang tính phê phán như PTH đă dẫn ra để đ̣i một consensus. Không cần có và không thể có một consensus trong cuộc hội truyên thông. Khi đă phóng một biểu trưng vào vũ trụ tiếp nhận, không thể đuổi theo nó để vặn lại ốc vít, đánh bóng mạ kền hay tiếp thêm dầu nhớt. Sẽ có người tiếp nhiên liệu và đaị tu nó hoặc phá huỷ theo quyền của họ. Người ta đă dẫn ra ví dụ về một thông điệp bảo vệ phụ nữ mang bên trong những h́nh ảnh khiêu dâm lại khiến người tiếp nhận là chiến sĩ tiền phong trong phong trào b́nh quyền nam nữ lên án, và kết qủa là thông điệp bị người này bác bỏ.

 

4- Người ta cũng nhận xét rằng, thời đại truyền thông đă hạ bệ người phụ nữ xuống thành người nội trợ hoặc kẻ chào hàng. Đó là quy luật nghiệt ngă. Cho nên, đă dấn thân vào sân chơi truyền thông (đăng đàn, trả lời phỏng vấn, quảng cáo, siêu quảng cáo...) th́ không nên đ̣i hỏi ưu đăi về giới. Những khái niệm về tôn trọng phụ nư ờđưa ra ở đây là ngó ngẩn, yếu, vô lối, trong khi bản thân cách chơi của ḿnh là không cần tôn trọng bất kỳợ người VN nào, kể cả người sống lẫn người chết, người già và người trẻ nữ giới và nam giơi. Cũng không nên dựa vào tư cách nhà văn để hỗ trợ cho những luận điểm tự nó không đứng vững của ḿnh.

Trong thực tế, qua những bài đă post, tôi thấy diễn đàn này tỏ ra rất tôn trọng nhà văn PTH. Hào quang của nhà văn vẫn c̣n nguyên, thậm chí các fants của diễn giả PTH vẫn c̣n không ít trên forum và khá cuồng nhiệt. Huyền thoại vẫn được củng cố, nhưng việc giải huyền thoại và  giải mă văn bản vẫn bị khống chế trên tinh thần đạo đức diễn đàn truyền thống, sợ đi đến cùng vấn đề th́ xâm phạm đời tư (cũng có thể là không muốn nâng PTH lên tầm Clinton, Diana để được nói về đời tư chăng?) Vậy tôi không biết các anh Đỗ Quyên và Phạm Hoàng phải xin lỗi ǵ?

 

Vài ḍng viết vội góp lời với các anh chị. Hẹn sẽ viết bài đàng hoàng bàn về vấn đề chung đặt ra trong hai bài viết của Phạm Thị Hoài và Hoàng Ngọc-Tuấn .

 

Kính chúc các anh chị mạnh khoẻ.

Đọc  Phạm Thị Hoài -

Tham luận về trí thức và trách nhiệm với đất nước 

Lê Quốc Đạt

 

 

 

A.      Từ câu hỏi chung

 

Câu hỏi định hướng đến là: Người trí thức có trách nhiệm với đất nước không?

 

Câu hỏi đó c̣n tổng quát, nên có thể khai triển thành ra các câu hỏi sau:

 

1.      Thế nào là trí thức?  Trí thức Việt?

ở nước ta, có một sự khác biệt rất lớn về thời gian.  Nên có sự phân biệt chi tiết hơn:

a.           Trong thời quân chủ:                                                Nhà nho, kẻ sĩ, giới sĩ phu

b.           Trong thời cận, hiện đại: Trí thức, chuyên viên

c.           "Giao t́nh giữa văn chương và thời thế" " Nhà văn nói về chính trị ố Vấn đề trí thức Việt nam"

-          Nhà văn và trí thức : Có phải ai cầm bút víêt văn, làm báo,  cũng là trí thức không?

-          Chính trị, thời thế và cai trị, cầm quyền: có khác nhau  không?

Khi đánh giá, phán đoán, nên tôn trọng bối cảnh lịch sử và thời gian.

 

(Phải chăng trí thức là một thái độ - phẩm tính, tạo thành nhân cách?)

 

2.      Nếu cho trí thức có trách nhiệm với xă hội, đất nước:

a.           Tại sao lại có trách nhiệm? Trách nhiệm đó từ đâu tới? Ai cho? Có được xă hội công nhận không? xă hội chấp nhận đến đâu?

b.           Trách nhiệm đó là ǵ? Tiêu chuẩn  ra sao? mức độ đến đâu? do đâu qui định xếp đặt? Có thay đổi theo thời gian? không gian không?

c.           Các giới khác (ngoài trí thức) có trách nhiệm không? Khác?

-          Trách nhiệm như thế nào? đến đâu?  ra sao?

-          Khác biệt và có liên hệ như thế nào với trách nhiệm của giới trí thức?

 

(Trách nhiệm và tự do: phải có tự do, mới thể hiện được trách nhiệm?)

 

3.      Có thể trả lời là không cho câu hỏi chủ đề được  không?

a.           Trí thức không có trách nhiệm ǵ với tư cách là trí thức

b.           Hay có trách nhiệm nhưng không có ǵ đặc biệt  - ai cũng như nhau, trí thức hay không à với đất nước

c.           Nếu không nhận trách nhiệm, hay không có trách nhiệm đặc biệt, có c̣n là trí thức không?

 

(Xă hội là tập hợp, vậy trách nhiệm là tập thể ? chung và như nhau giữa trí thức và các giới khác?

Trí thức chỉ thực hiện được sứ mạng của ḿnh trong tập thể đồng thuận?)

 

4.      Phê phán trí thức Việt:

a.           Tiêu chuẩn:

-          Tính chất: Thái độ hay hành động?

-          Đối tượng tác  động: Chính trị? Xă hội?

b.           Nếu nói về tư cách của trí thức Việt: có phải họ chỉ đi với kẻ cầm quyền? Là học tṛ học nửa vời của nước ngoài không? Tại sao?

c.           Những người trí thức Việt đă làm được ǵ?

-          Trong quá khứ?

-          Trong thời chúng ta?

-          Thất bại? Thành công? Theo tiêu chuẩn nào? Ra sao? Đến đâu?

-          Tại sao thành công hay thất bại?

 

(Có phải họ hành động như lịch sử  ghi lại là v́ họ là trí thức không? Hay chỉ v́ là người yêu nước, có ư chí, can đảm có thaí độ?)

 

5.      Các câu hỏi trên sẽ có thể mở rộng ra, đưa đến:

a.           Sự phân biệt các tầng lớp trong xă hội. Phân biệt như thế nào cho hợp lư trong xă hội VN?

-          trên căn bản học vấn/khả năng suy nghĩ, thái độ?       

(trí thức/không trí thức)

-          trên căn bản quyền lực?                       (kẻ  cầm quyền/người bị trị)

-          căn bản kinh tế ?                      (kẻ có ăn có mặc/kẻ khốn cùng)

-          có cách phân biệt nào khác nữa không?

b.           Tương quan giữa các tầng lớp trong xă hội, nhất là trong xă hội chúng ta, các lực lượng, tầng lớp xă hội, các bộ phận của nó tác động nhau ra sao? Tính chất các tác động ra sao? Tại sao?

c.           Vai tṛ của con người với xă hội ḿnh sống, đất nước ḿnh sinh ra? thời đại của ḿnh?  muôn ngàn năm sau?

d.           Trong xă hội chúng ta:

Có ăn, có mặc  >  có học, trí thức  +  cầm quyền  =  có cơ hội tác động vào thời sự, xă hội

Tại sao cái phương tŕnh đó? Có đúng không?

 ở các nước khác (nơi chúng ta đang sống)  ra sao? Có khác biệt? Tại sao ?

 

6.      Cuối cùng ố nếu tin vào trách nhiệm của trí thức:  tin là có sự tác động từ giới trí thức vào xă hội và thời đại?  Vậy:

a.           Trí thức tác động như thế nào vào xă hội? thời đại, đất nước?

b.           Từ vị thế nào:

-          Có cần thiết là phải ở trong vị thế cầm quyền không?

(phải tham chính?)

-          Có phải ở trong các tổ chức kết hợp không? (phải lập đảng, hội?)

-          Có phải ở trong vị thế cầm bút không? (phải viết văn, làm báo, "toạ đàm"?)

c.           Tri thức và  quyền lực?  Quyền lực tác động vào trí thức?

Lợi và danh, chuyện tự ngh́n xưa? 

Trí thức bị tha hoá, mất gốc, vong thânà thế nào? ra sao? V́ đâu ???

 

(Liên hệ đặc biệt? Trí thức bị quyền lực thay đổi?  Văn chương bị chính trị vây toả?)

 

7.      Làm ǵ? Làm được không? Tương lai?

Những nhận xét cá nhân, chủ quan:

a.           Trong tôn giáo, người ta rao giảng (những niềm tin, giáo điều) trong chính trị, người ta tuyên truyền (cho các chủ nghĩa, chính sách), trong thương măi, người ta quảng cáo (cho mọi thứ có thể bán buôn có lời được) Người trí thức làm sao để không rơi vào những bẫy, các "mê hồn trận" đó?

b.           Tại  phương Tây, Bertrand Russell (1872-1970),  J. P. Sartre (1905-1980), Noam Chomsky... là ai? Có thể học được ǵ ở họ?

 

(Ngày hôm nay, ở nước ta, có ai là trí thức? Khả năng thật sự ra sao?

Họ có thể đóng vai tṛ giáo dục đồng bào, chỉ đạo hay soi đường cho dân tộc được chưa?

Trước các vấn đề của đất nước, đâu là lời giải của họ?  Giá trị ?

Nếu được tham chính, cầm quyền, họ có đảm đương được không? Triển vọng ra sao?)

 

B.      Đến những trả lời riêng

 

Từ vốn sống và vốn học riêng, mỗi người trong chúng ta sẽ đưa ra những lời đáp khác nhau.

 

Trả lời được hay không, ít hay nhiều, các câu hỏi trên sẽ c̣n quay trở lại, đặt lại. T́m kiếm lời đáp là một hành tŕnh dài.

 

Trong lúc này, v́ suy nghĩ trước các câu hỏi chung, nên các lời đáp khác nhau sẽ soi sáng lẫn nhau. Đó là ư nghĩa của sự trao đổi. Làm giàu có chung cho tất cả chúng ta tham dự vào cuộc thảo luận này.

 

Khi t́m cách trả lời các câu hỏi trên, mỗi người sẽ có lời đáp riêng, sẽ đưa ra những phân tích cá nhân.

Lời đáp đó của mỗi cá nhân cũng lại sẽ có thể thay đổi v́ ở mỗi chúng ta, qua các chặng đời khác nhau, mỗi biến chuyển sống khác lạ... lại mở ra những  kiến thức, kinh nghiệm giàu có hơn, dồi dào hơn.

 

Dù kết luận có giống nhau, nhưng nếu đến từ những chủ đích khác nhau, sẽ hướng đến những hành động khác  nhau.

 

Sau nữa, lời đáp chỉ là phần ngọn, cái gốc của nó là các dữ kiện biện minh, cách cấu kết lư luận mới là chủ yếu. Nếu chúng dựa trên những dữ kiện sai lạc, không tề chỉnh, thiếu thông quán, giá trị hướng tới là hành động sẽ không có. V́ suy nghĩ để hành động. Vậy suy nghĩ không thấu đáo hết mọi lẽ, hành động sẽ nửa vời. Nếu  nói không hết lẽ, làm sẽ không đến nơi đến chốn. 

 

 

C.     Nhưng trên cơ sở của suy tưởng, lư luận 

 

Chúng ta nên trả lời ra sao đây?

 

Các ư kiến, giải đáp thường dùng những dữ kiện từ lịch sử 1) để phân tích, hay dựa vào các dẫn chứng từ sinh hoạt văn hoá, xă hội 2) để suy diễn, phê phán. Nếu dữ kiện đưa ra không chính xác, không hiển nhiên 3) ; các phê phán, nhận xét sẽ sai lạc 4). Các dẫn chứng nên chính xác 5), các suy diễn nên hợp lư 6), nếu không, tư tưởng sẽ mơ hồ, khó hiểu 7).  Như thế, ư kiến khó được chấp nhận.

 

Đằng sau các phê phán cũng thường là những cách nh́n, chỗ đứng. Khi chúng ta nói điều này tốt, việc kia ích lợi, sự kiện này hơn hay kém sự kiện kiaàTốt cho ai? ích lợi theo thước đo nào?  Hơn kém trên các giá trị nào? Các giá trị đó có được chấp  nhận từ các phía đối ngược không?  

 

Nếu cách nh́n không phổ thông, hướng nh́n thiếu hợp lư hay chỗ đứng để lập luận không vững chăi, và tất cả không thuần nhất.  Sự phê phán thành thô thiển 8). Lư luận thành không mạch lạc 9), hàm hồ, đi đến ngụy  biện (? fallacies). Điều muốn trao đổi sẽ kém sức thuyết phục.

 

Cuối cùng nên có thái độ của người cầu học, thành thật, không nên nói những ǵ ḿnh tưởng là biết, hay chưa biết. Lư trí là chỗ dựa để quan sát thận trọng, và đừng phê phán khi chưa hiểu rơ ngọn ngành.

 

Kiến thức ít, suy tưởng yếu là chuyện thường, ai mà có cho đủ?  Nhưng không bắt buộc phải phán đoán trong vội vàng, như thế chỉ đi sâu vào các ngơ ngách của lầm lạc.

 

Có phải nhiều tai họa và tội ác trên quê hương chúng ta đă khởi đi từ các ngơ ngách của vô minh không?

 

Lê Quốc Đạt

Toronto, 5/2001

---------------------------------

Chú Thích:

 

                                               1- "Khi Trung Hoa đă là Trung Hoa Dân Quốc -trí thức Trung Hoa đă miệt mài ngồi dịch sách - lúc đó trí thức Việt Nam vẫn c̣n chết ch́m trong cái mớ "thi vân tử viết" của ḿnh và triều Nguyễn c̣n trưng ra những nghi lễ nho giáo c̣n khắt khe hơn triều đ́nh Bắc Kinh một thuở"(Phạm Thị Hoài)

Có sự lẫn lộn về thời gian ở đây:

- Triều Nguyễn ở Việt Nam bắt đầu từ Gia Long lên ngôi (1802) c̣n  Trung Hoa Dân Quốc hơn trăm năm sau mới thành lập (1912)

- Trung Hoa dịch sách dân chủ Tây phương trước Trung Hoa Dân Quốc rất lâu. Khang Hữu Vi (Kơang Yu-wei 1858-1927) và Lương Khải Siêu (Liang Chi Chơao 1873-1929) làm cách mạng "cải tổ Peking" (1897) ở cuối đời Thanh, không đợi đến thời Dân quốc mới dịch sách! V́ dịch sách trước đó nên mới có Dân quốc, c̣n sau dân quốc có dịch (thêm! người khác?) chắc bên Việt Nam, các trí thức đă đọc Rousseau, Montesquieu bằng tiếngà Pháp rồi!

 

2- "Khổng Tử "chỉ" có đánh xe". Thật thế không? Hay chúng ta chỉ c̣n biết được những chi tiết không toàn vẹn như vậy? Gần hai ngh́n năm xưa, sách không nhiều, lại chẳng c̣n bao nhiêu tồn tại đến nay. Trong những ǵ c̣n giữ được, sự việc ghi chép rất vắn tắt, nhằm chuyển ư hơn là chép lời. Đọc sách xưa có chỗ khác với đọc sách nay. Vin vào chi tiết nhỏ, có tính tương trưng đó, để phán đoán cả một sự nghiệp, dù có ư khôi hài, rồi đi đến phê phán cả một tầng lớp xă hội, e không khách quan, thiếu công bằng.

 

 3- Phạm Quỳnh: trí thức xuất thân hoàn toàn "độc lập?" (PTHoài) Không phải ông làm báo bằng tiền của trùm mật thám Pháp Marty đấy sao? Phạm Quỳnh ra làm thượng thư để mà "hành cái đạo của ḿnh (PTHoài)"? Tôi đọc sách chỉ nghe  Phan Khôi gọi PQ là nhà học phiệt, c̣n Ngô Đức Kế gọi các điều PQ hô hào (về truyện Kiều chẳng hạn) là "tà thuyết" chứ không phải "học thuật", chưa biết PQ có "đạo" ǵ? Lớn đến đâu để đem ra "hành"?

 

4- So sánh Nguyễn Du và Nguyễn Tuân? Dù nhận ra Nguyễn Tuân "ngông nghênh, thách thức" (PTHoài)  nhưng hai người khác nhau như kim cương và than đá!  Một bên là Nguyễn Du. Một bên là chỉ là một nghệ sĩ tài hoa, nhưng nếu nói thêm Nguyễn Tuân lại phóng túng, khinh bạc, ít học, truỵ lạc, chắc cũng có người đồng ư. Nguyễn Tuân làm cán bộ văn hoá thừa hành, phục vụ cho hệ thống tuyên truyền của chính quyền đương thời, có lúc quỵ luỵ, có lúc vênh váo. E tự Nguyễn Tuân cũng không dám sánh ḿnh với Nguyễn Du. Hay so sánh v́ chung một chữ "hoài"?   Vậy Nguyễn Tuân "hoài"  cái ǵ? "Trung" với ai?  Hơn nữa,  Nguyễn Du "hoài Lê" vẫn là một nghi vấn văn học,  một cách giải thích, chưa rơ chi tiếtà (Hoài như thế nào? Hoài ai? Lê hay Trịnh? Tại sao?)  Nguyễn Tuân là nhà trí thức? 

 

  5- "Cuộc chiến văn hoá - VN sẽ là địa bàn xung đột để chiến tranh thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung Quốc (PTHoài) ". Trong Samuel P. Huntington, The clash of civilizations and the remaking of world order, Simon & Shuster, New York, 1996 - tạm dịch là "Sự xung đột giữa các nền văn minh và sự xếp đặt lại trật tự thế giới", tác giả cho rằng sau cuộc Chiến tranh Lạnh (cộng sản Nga, tư bản Mỹ), thế giới sẽ phân chia lại theo các khu vực văn minh (Tàu-Hán, Hồi giáo, Nhật, Chính thống giáo, ấn giáo, Âu Mỹ) có thể tranh chấp với nhau, trước khi đi đến việc chấp nhận lẫn nhau và một nền văn minh chung. Tác giả xếp Việt Nam cũng như  Korea vào khối Hán (Sinic)  nhưng không có chỗ nào nói đến "chiến tranh thế giới lần thứ ba", Việt Nam là một điểm nóng cũng như Cashmir hay Trung Đông, nhưng cũng không có chỗ nào tác giả nói đến " địa bàn xung đột"! 

 

6- "Học cái chữ của ḿnh bằng cách hai lần đi qua chữ của kẻ thù" Có phải v́ chữ Trời viết bằng "thiên" và "thượng" nên thành hai lần không? Nhưng khi học chữ "trời" không tiên quyết phải biết các chữ kia, cứ học thẳng ngay vào chữ đó cũng được, phân tích đến sau. "Phải biết cách ghép.." Không, học tṛ không cần phải biết cách ghép, chữ đă có sẵn, không phải mỗi lần ai học lại phải ngồi ghép! Nếu đếm cửa (chữ Hán), chỉ có một, không hai!  Ngay cả học chữ Hán cũng vậy, mỗi chữ thường ghép từ hai, có khi ba chữ khác có sẵn... Có v́ vậy mà gọi là qua hai, ba cửa đâu?

 

 7- Khách quan, chủ quan! Hỏi "việc v́ ai? do ai?" mà nước ta đáng buồn như vậy, Có hai câu trả lờià. Một là do khách quan" (lịch sử, thiên nhiên)" hai là do chủ quan" (dân tộc, con người, văn hoá Việt). Có lẽ tác giả muốn nói ở ng̣ai và ở trong đối với con người. Ngoài là khách mà trong là chủ! Có lẽ hiểu như thế không sâu sắc lắm với khoa suy luận logic. Hơn nữa, lịch sử có thể là khách quan, ngoài con người được không? Thiên nhiên, ngoại cảnh được ghi chép và thu nhận qua lăng kính con người và là môi trường sống, có thể coi là sự nối dài của con người. Vậy có là khách quan?  Đâu là trong?  ngoài?  Vậy lời đáp chỉ có một: con người Việt, với xă hội, văn hoá, lịch sử và thiên nhiên của nó. Không có hai, không có trong, ngoài, chủ, khách! Khái niệm logic hiểu quá đơn giản. Khách quan (objective) và chủ quan (subjective) là thuộc tính (attribute) cho một nhận xét, một quan sát, một lời đáp, là màu sắc cho một cái khác, nó không là tự nó. Lư luận trên những ư niệm mơ hồ.

 

8- Chữ Nôm, so với chữ Nhật "nó không thành công" (PTHoài). Thế nào là chữ viết "thành công"? Tôi nghĩ tác giả muốn nói chữ Nôm v́ khó học nên không phổ thông, không được dùng? Chữ Nhật giản dị hơn nên được dùng rông răi, nên "thành công"?

 

Trước hết, muốn giỏi chữ Nhật, cũng phải biết nhiều chữ Hán (kun) v́ chữ nhật Kanji dùng chữ Hán. Tiếng Nhật đa âm (polysyllabic), lại dùng tiếng đơn âm (Hán) để ghi, họ lúng túng vô cùng! Cho nên ngoài kanji, họ phải tạo ra chữ kana (gồm hiranaga và katanaka ) Ngày nay khi viết, phải dùng cả ba hệ thống: kanji và hiranaga (viết) lẫn katanaka (in). Thực ra, họ cũng không hoàn toàn vui vẻ với chữ viết của họ đâu, có vận động bỏ lối viết theo chữ Tàu, chuyển sang lối viết khác dùng mẫu tự ghi âm, nhưng thói quen đă cản trở họ.

 

"Người Nhật đă tự động băng qua biển đến THoaà khuân một ít văn hoá Trung Hoa, trong đó có chữ viết về nhà." (PTHoài). Các sách Nhật viết về họ ghi rằng vào khoảng 400 AD, các học giả Korea đem sách Tàu sang Nhật! Và từ đó người Nhật mới bắt đầu chính thức học chữ Hán! Họ học giỏi, tạo ra nhiều chữ mới, thí dụ "khoa học (kagaku)" hay "xă hội (shakai)" là tiếng Nhật!  Truyền sang Korea, rồi sang Tàu, rồi về Việt Nam!

 

Tác giả như chắc chắn chữ Nôm là công tŕnh của giới trí thức, nên dựa vào đó để phê phán. Nhưng điều này cũng không rơ ràng, c̣n là nghi vấn. Chúng ta chỉ rơ có một điều là các nho sĩ dùng chữ Nôm, nhưng các công tŕnh tạo lập (tạo ra chữ, sao chép, khắc in...) không hẳn là trong giới trí thức. Nếu có cũng chưa  rơ phần nào? Bao nhiêu? Lúc nào?

 

Chúng ta có thể so sánh chữ Nôm với chữ Nhật được không? Một bên là công tŕnh chết yểu, không toàn vẹn, c̣n dở dang (chỉ dùng trong sáng tác văn chương, không trong học thuật, khoa cử, triều đ́nh, ngoài Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp ngắn ngủi), một bên là công tŕnh sống, phát triển cho đến ngày nay.

 

Chữ viết chỉ là dụng cụ để ghi lại tiếng nói, tư tưởng. Trong khoa ngữ học, không có khái niệm chữ viết "thành công". Tạo ra chữ viết  riêng cho ḿnh, thường là do các yếu tố lịch sử và địa lư, và không là mức đo trí tuệ sáng tạo. Các nước AÁu châu hiện dùng chữ cái Latin, cũng không hề tạo ra chữ viết của ḿnh. Họ vay mượn từ các nước Cận đông (qua Greek, rồi Etruscan). Chữ viết truyền đi theo gót chân các đoàn lính viễn chinh, hay truyền giáo.  Nước Korea, có chữ viết riêng với mẫu tự Hangul của ḿnh, là do nhu cầu (dùng chữ Hán không xong) và vị trí địa lư của họ, ở một góc của  A' châu, có Măn Châu cách nước Tàuà Chắc không ai có thể nói là họ thông minh, sáng tạo  "hơn" Nhật, hay Việt. Thái Lan mượn chữ viết của dân tộc bị họ đánh bại nhiều lần là Khmer .

 

Có chữ viết là dấu hiệu của phát triển tinh thần, đánh dấu sự tiến bộ về văn hoá.  Con người đă có suy tưởng và kết hợp thành tổ chức xă hội đông dảo, trở nên có nhu cầu ghi chép và truyền thông. Chữ viết đánh dấu cái mốc quan trọng ấy. Chữ viết Việt, từ chữ cổ như người Mường (trước Bắc thuộc), đến chữ Hán (sau Bắc thuộc), rồi chữ quốc ngữ (cận đại), ba hệ thống khác biệt, do hoàn cảnh lịch sử mà ra đời, mất đi, hay tồn tại, nhưng ở thời nào, chúng ta cũng có chữ viết. Sau nữa, nội dung nó chuyên chở mới là quan trọng hơn.

 

Chuyện chúng ta dùng chữ quốc ngữ hoàn toàn là do hoàn cảnh lịch sử, ngoài ư muốn của nhiều thế hệ trước. Các nhà truyền giáo AÁu châu đă dùng chữ viết và theo vần của họ để ghi âm tiếng Việt trong việc giao tiếp và giảng đạo cho người bản xứ.  Họ không hề có ư định tạo ra chữ viết cho chúng ta!  (Và cũng chưa tạo đến mức hoàn thiện!) Cũng như nhiều người Việt sang đến nước ngoài, đi học tiếng Anh, ghi âm tiếng Anh bằng chữ à Việt!

 

Các nhà truyền giáo ở Việt cũng thường là các nhà truyền giáo ở Macao, Thiên Tânà chạy về,  và cũng có trong ḍng Jesuit.  Nếu giỏi th́ chắc là các nhà truyền đạo bên Tàu giỏi hơn, như Matteo Ricci nghiên cứu tinh thâm Nho giáo, vào kinh đô Nanking, rồi Peking đối thoại với các trí thức, danh sĩ, nho gia Tàu. Theo Phạm Thị Hoài, các nhà truyền giáo bên ta (so với bên Tàu) "có ḷng khoan thứ"(?) Khoan thứ chắc không phải là kính trọng (Nếu có ḷng kính trọng các tôn giáo khác th́ chắc là không đi truyền giáo!) Hay khoan dung và rộng lượng? Họ đứng ở đâu mà có thể có thái độ như vậy? Đă "khoan (dung)" lại "rộng răi (thứ)" Tại Tàu (Wade-Giles romanization) và Nhật, họ cũng ghi âm tiếng địa phương theo Latin, v́ Tàu và Nhật không mất nước như chúng ta, nên chữ đó không có cơ hội được dùng.

 

Chữ quốc ngữ dễ học, dễ viết (cho người b́nh dân nghèo là đốí tượng của Thiên chúa giáo lúc mới sang nước ta) tiện cho việc dịch chép kinh thánh, lời cầu nguyện, nên sớm phổ thông trong nhà thờ từ thời phân tranh đàng Trong, đàng Ngoài. Nhưng phải đến thời thuộc Pháp, v́ nhu cầu cai trị (thúc đẩy dân chúng đọc thông cáo, yết thị và báo chí tuyên truyền của nhà nước thực dân - Gia Định Báo, Đông Dương, Nam Phong) và tham vọng về chính trị, văn hoá: cắt đứt chúng ta với truyền thống văn hoá dân tộc (chữ đó, lúc ấy chưa chuyên chở t́nh tự yêu nước, không mang quá khứ dân tộc) lại dễ in, tiện phổ biếnà nên đựơc chính quyền thực dân đẩy vào giáo dục, cho thành phổ thông. Chỉ bắt đầu sang thế kỷ XX, từ Đông Kinh Nghĩa Thục, các nhà ái quốc Việt mới chính thức chấp nhận và hô hào việc học chữ quốc ngữ, bỏ chữ Hán, v́ xem đó là lợi khí duy tân.

 

Chữ quốc ngữ cũng c̣n nhiều điểm chưa toàn mỹ, nhiều chỗ có thể làm cho tốt đẹp hơn được. Trẻ nhỏ học đọc, đánh vần nhanh, nhưng "biết chữ mà chưa biết nghĩa". Đọc chữ  "trời" mà chưa hẳn đă hiểu nghĩa, c̣n trong chữ Nôm, khi học được chữ "trời"  cũng sẽ hiểu là ǵ!, hay "năm" nếu trong chữ Nôm, biết là số năm hay năm tháng (v́ viết khác nhau)à Chúng ta vẫn dùng các chữ Hán Việt (orthographic structure-pictoral) nhưng ghi âm Latin (linguistic structure-text). Lại dùng các dấu ghi âm (diacritic) theo Spanish và Portuguese,  nên viết khó đọc, khó in, đánh vào máy... lại chưa thống nhất, hợp lư(i & y...)

 

 9- Xem đoạn khai triển về "lư do chủ quan":

Theo dơi lư luận, khởi đi:

 

                                               Chúng ta đội sổ, thua kém thiên hạ                                                                                                                                                         (a)

Chúng ta không tự tin                                                                                                                       (b)

(V́) Chúng ta đội sổ, thua kém thiên hạ NÊN chúng ta không tự tin                                               (c)

 

(a), (b) là nhận xét chủ quan, có thể chấp nhân, đồng ư, hay không đồng ư.

 

Trong kết luận (c), là suy diễn, đặt ra liên lạc (NÊN) giữa (a) và (b)  không có cơ sở vững chắc v́ giữa nghèo, lạc hậu và tự tin không có quan hệ tất yếu (có thể thua kém thiên hạ v́ nghèo, lạc hậu, nhưng vẫn có thể tự tin...)

 

Lư luận như vậy cũng giống như:

                                               Tôi ăn bánh

                                               Tôi đọc báo

                                               (v́) Tôi ăn bánh nên tôi đọc báo                                               (!)

 

Sau đó:

                                               Chúng ta không tự phê b́nh                                                                                                                                                                  (d)

                                               Chúng ta (đội sổ, thua kém thiên hạ) không tự tin                                            (c)

                                               "Rơ ràng" là tự phê b́nh đ̣i hỏi một ḷng tự tin lớn                                            (e)

 

(d) là nhận xét  tuy chủ quan, có thể chấp nhân, đồng ư ít nhiều

(c) chúng ta đội sổ, thua kém thiên hạ (NÊN) chúng ta không tự tin - câu này đă yếu từ trên.                                               

 

Trong kết luận (e), liên hệ giữa tự tin và phê b́nh không được thiết lập vững chăi, v́ cũng không có quan hệ tất yếu. Nên không rơ ràng dù tác giả có nói "rơ ràng"!

Đi thêm một bước nữa, nhận xét về dân tộc Đức và phê b́nh thành thừa thăi, nhạt nhẽo.

 

Tương tự:

                                               Tôi đi chơi

                                               Tôi (ăn bánh nên tôi) đọc báo

                                               Rơ ràng là đi chơi đ̣i hỏi phải (ăn bánh) đọc báo nhiều (!)

 

                                               Ông Đức đi chơi, nhất định là ông ấy đă (ăn nhiều bánh và) đọc báo  nhiều lắm!

Các lư luận mỗi bước càng yếu đi. Sự thuyết phục cũng càng giảm đi.

 

Lại thêm thí dụ, như đoạn cuối: 

Trí  thức VN mặc cảmà

V́ sao? - v́ "thấy ḿnh bé nhỏ trước các thành tựu văn hoá khác"

 

Dĩ nhiên đây là một nhận xét riêng của một người, là tác giả, nên chỉ mới có tác động mời gọi sự chấp nhận, chưa có tác động thuyết phục. Nên phải thêm kinh nghiệm riêng lẻ của ḿnh: "Tôi thực sự chưa được chứng kiến một trí thức hay một văn sĩ Việt Nam nào có một ḷng tự tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước ngoài." (PTHoài)

 

Giống như, có ai nói:

                                               Chó không cắn chết người được đâu.

                                               Không tin à? Tôi "thực sự" chưa thấy chó cắn chết ai bao giờ cả.

 

Người nói chắc rất tự tin, nhưng chưa hẳn có người nghe theo. Ai tin như thế, có ngày chết v́ chó dại  cắn!  

 

________Toronto, 5/2001_______

Lời mời cuộc thảo luận trên báo Cánh Én

"Nhà văn nói về chính trị: Vấn đề trí thức Việt Nam

 -

Nhân bài tọa đàm của nhà văn Phạm Thị Hoài"

 

 

München, ngày 24-4-2001

 

Cùng Quư văn hữu,

 

Giao t́nh giữa Văn chương và Thời thế là chuyện không hề mới, và cũng không bao giờ cũ. Về phía nhà văn, nói chung có ba quan niệm: Động tới cái này phải chạm vào cái kia; Bỏ th́ thương vương th́ tội; Kính nhi viễn chi.

Hôm nay, chúng tôi kính mời Quư văn hữu - những nhà văn, nhà thơ, phê b́nh gia, văn nghệ sỹ - đến với báo Cánh Én, để thảo luận chủ đề Trí thức Việt Nam nhân bài nói chuyện "Tư cách chính thống của trí thức Việt Nam" của nhà văn Phạm Thị Hoài trong cuộc tọa đàm tại Berlin, tháng 10-2000 (Phần đầu bài này vừa được đăng trên báo Cánh Én số 111, 03-2001; Phần sau trong số báo tiếp).

"Quốc gia hưng vong, Sĩ phu hữu trách"... Nhiều năm gần đây, ở trong nước cũng như hải ngoại, từ mọi phía, những quan tâm thường dồn đến câu hỏi cuối cùng: Vậy lối ra cho vấn nạn đất nước là đâu? Trí thức Việt Nam đang là đề tài chung để các diễn đàn thể hiện những quan điểm khác biệt ở câu hỏi này.

Đúng ra trong việc nhận định về vấn đề trí thức th́ tiếng nói độc lập của các nhà xă hội học, chính trị học, triết gia, sử gia, văn nghệ sĩ, các chiến sĩ tranh đấu... phải là nặng kư. Song, ở một đất nước như Việt Nam, nơi mà các yếu tố không lành mạnh của chính trị và các nền độc tài, trong đó đáng kể nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, khống chế dư luận một cách ư thức hay vô thức th́ những ǵ liên quan đến trí thức Việt Nam trở nên vô cùng phức tạp và bị lọt vào bàn tay biến báo của các chính trị gia, của các thế lực và mưu đồ chính trị không lành mạnh đó.

Cũng với giọng văn khúc triết ẩn hiện sự biếm hài, nhà văn Phạm Thị Hoài, dường như là lần đầu tiên bằng ngôn ngữ chính luận thông thường, đă trực tiếp tŕnh bày một số quan niệm về trí thức Việt Nam vốn từng là đề tài chính ở các tác phẩm văn chương ẩn dụ của chị.

Chúng tôi có quan niệm của ḿnh về mối liên hệ giữa Chính trị (dù là chính trị quyền lực hay chính trị thời cuộc) với Văn học-Nghệ thuật. Và, quan niệm đó không hề cản trở việc đăng tải bài vở của các văn nghệ sĩ có các quan niệm khác. Việc tổ chức diễn đàn riêng này cho các văn nghệ sĩ hội thảo về một vấn đề hệ trọng của đất nước đă là cố gắng đặc biệt của báo Cánh Én trong hơn 11 hoạt động v́ một nền báo chí Việt tự do ngôn luận thật sự, v́ một nước Việt Nam dân chủ thực sự. Trong ư nghĩa đó, chúng tôi tin rằng các thảo luận khi mà đă góp nên các trang báo Cánh Én th́ cũng dự phần làm ra các trang văn của Quư văn hữu.

Về h́nh thức thảo luận: chúng ta có thể dùng cả hai lối "truyền thống" và "hiện đại": Các bài viết, các ư kiến riêng của từng tác giả gửi đăng báo như thường lệ; Các trao đổi trên một Mailing-List giữa một số tác giả và theo đó Ban biên tập sẽ biên soạn để đăng báo.

Chân thành tri ân quan tâm của Quư văn hữu và xin khai mở cuộc thảo luận "Nhà văn nói về chính trị: Về vấn đề trí thức Việt Nam... " với bài dưới đây của nhà văn Phạm Thị Hoài.

 

Thân kính

 

Ban biên tập Cánh Én

phamce@aol.com

 

* * *

 

Tư cách chính thống của trí thức Việt Nam

 

Phạm Thị Hoài

 

Kỳ 1

(Đăng báo Cánh Én số 111, tháng 03-2001)

 

Lời Ṭa soạn Cánh Én:

Bài viết dưới đây của nhà văn Phạm Thị Hoài - diễn giả chính trong cuộc toạ đàm tại Berlin vào tháng 10-2000. Do ghi lại từ băng ghi âm nên có thể có thiếu sót, rất mong tác giả và độc giả lượng thứ. Được sự đồng ư của nhà văn Phạm Thị Hoài, Cánh Én xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc của ḿnh.

 

 

Thưa các bác, các anh, các chị:

Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây rất đơn giản và tôi xin những vị có ư chờ đợi ở một nhà văn những tư tưởng rất cao siêu, phức tạp thể tất cho.

 

Tất nhiên là tất cả các vấn đề của hiện thực Việt Nam đều rất phức tạp. Nhưng tôi nghĩ rằng: Cái cách mà dễ dàng nhất, cái cách mà láu lỉnh nhất để khỏi phải đối mặt với cái hiện thực này chính là làm cho nó phức tạp hơn bản thân nó. Mà văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam có một căn bệnh trầm kha là: khi sự vật dường như không thể giải quyết nổi theo các tiêu chí của nho giáo, hiệp sĩ hay chiến sĩ th́ nó lập tức được nh́n theo nhăn quang của phương sĩ, hay đạo sĩ và đấy là một thứ nhăn quang tất nhiên là rất vô cùng thú vị và vô cùng phức tạp. Thú vị và phức tạp tới cái mức nó cho phép người ta có thể mải mê trong chính nó, và bản thân cái hiện thực chỉ là cái cớ rất là phụ. Nhưng chúng ta sẽ trở lại cái hiện thực này ở một đoạn sau và bây giờ tôi chỉ xin nói trước là: trong buổi tối hôm nay chúng ta sẽ cố gắng giản dị và sáng tỏ trong suy nghĩ của ḿnh.

 

Xuất phát điểm của vấn đề mà tôi muốn đặt ra cũng rất là giản dị, trước sau ít nhất là 2000 năm, có một dân tộc Việt, một văn hoá Việt, một quốc gia Việt và sau ít nhất là 200 năm có một lănh thổ Việt như ngày nay, th́ nước ta vẫn là một nước nghèo và lạc hậu vào hạng nhất thế giới. Nhưng vấn đề không phải chỉ là ở chỗ nghèo và lạc hậu, nếu chỉ có như vậy th́ tôi c̣n chưa thấy có ǵ là đáng sợ lắm. Cái vấn đề, một là ở chỗ là chưa bao giờ chúng ta như thế. Từ khi tôi sinh ra đă là như vậy. Từ khi cha mẹ, ông bà tôi sinh ra đă là như vậy. Từ khi các cụ tôi sinh ra cũng là như vậy. Khi các kỵ tôi sinh ra th́ thế giớI lúc đó chỉ là Trung Hoa và Ấn Độ thôi, nhưng bảng xếp th́ vẫn thế không có ǵ thay đổi cả. Nước Hy Lạp chẳng hạn là một nước hiện nay đang nghèo nhất cộng đồng Châu Âu, nhưng không phải bao giờ cũng thế. Nước Nga cũng đang vô cùng bê bối, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chỉ có nước Việt là chưa bao giờ như thế mà thôi. Tôi thậm chí không dám nghĩ tiếp rằng là khi cháu tôi hoặc chắt tôi sinh ra th́ chúng ta vẫn không thoát được cái kiếp đội sổ như vậy. Sở dĩ tôi phải nói hơi dài về vấn đề này v́ nó là một yếu tố quan trọng trong việc h́nh thành tính cách rồi tư cách của người Việt nói chung và người trí thức Việt nói riêng. Ta hăy h́nh dung, nếumột anh học tṛ đi học trong cả suốt cuộc đời của ḿnh không bao giờ không đứng cuối lớp, nó là một cái dớt không thay đổi, th́ đến một lúc nào đó ư chí phấn đấu của anh ta (nếu như anh ta có một ư chí) cũng phải tiêu tan. Thứ hai nữa, là nếu mà câu chuyện chỉ dừng lại ở một nước nghèo và lạc hậu mà thôi, th́ tôi cho rằng tất nhiên vẫn là một câu chuỵện buồn nhưng chưa đến nỗi bi đát và vô vọng bởi v́ chỗ này, tôi cũng xin nói thẳng là chúng ta đang sống ở một nước không nghèo và không lạc hậu tí nào là nước Đức. Chúng ta có thể nói rằng sự giàu có và văn minh tiến bộ cũng đẻ ra nỗi sầu rất đặc trưng của nó, chứ không phải chỉ có riêng nghèo và những điều bi đát lạc hậu. mà chúng ta vẫn thấy là thưồng xuyên có những công dân của cái thế giới văn minh và giầu có này t́m cách giải toả những nỗi sầu của ḿnh bằng cách giải toả tất cả những cái bi kịch của sự thừa thăi của vật chất cũng như là sự tiến bộ với một cái tốc độ rất là nhanh chóng của cái xă hội hiện đại của họ bằng cách là t́m về những cái xă hội c̣n mông muội, c̣n văn khai c̣n nghèo khó và coi đó là những câu trả lời nhất định, là một cái thứ (?...) tất nhiên là chúng ta có thể mỉm cười và có thể coi đó là một cái thứ lăng mạn, một cái căn bệnh quí phái, nhưng mà chúng ta không thể bác bỏ nó đựơc, chỉ có điều là hiện thực Việt Nam thậm chí không phải là cái chỗ thích hợp để cái thế giới thứ nhất đó chữa chạy những cái căn bệnh quí phái của ḿnh bởi v́ ngoài cái nghèo và lạc hậu, th́ đến đầu thế kỷ 21 này xă hội Việt Nam c̣n là chỗ hội tụ của những dịch bệnh nhường như vô phương cứu chữa khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm. Đối với tôi, tôi đặt tên khái niệm đó là sự bất an. Với tôi một nhà văn th́ đương nhiên sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối quan tâm chính. Theo cách nh́n của tôi, th́ sức mạnh của một xă hội là khả năng đem lại cho các thành viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất định, người ta có thể nghèo nhưng nếu mà người ta có được một cảm giác an tâm nhất định, điều đó quan trọng hơn. Nếu không có cảm giác ấy th́ người ta chỉ có ’dớt’  miễn cưỡng sống tạm cuộc đời của ḿnh và đương nhiên không có một động cơ nào đủ mạnh để sống tiếp cuộc đời của những thế hệ trước, sống trước cuộc đời của những thế hệ sau và sống chung cuộc đời của những kẻ cùng thời. Nói như thế th́ xă hội Việt Nam là một tập hợp tạm bợ, rời rạc và hoàn toàn không hữu cơ. Có những cá nhân hoang mang và bất ổn. Về xuất phát điểm là như vậy, vấn đề đặt ra là trong cái số phận dường như là vĩnh viễn hẩm hưu đó của ta (?..) th́ người trí thức tham dự như thế  nào? Nói một cách khoa trương và có lẽ là tương đối sáo th́ người trí thức Việt Nam chịu trách nhiệm ǵ về cái số phận chung ấy của cả một dân tộc. Cho đến nay, chúng ta đă nghe, có thể là đă nghe đến thuộc ḷng rồi, những lời đáp vô cùng rơ ràng về cái việc này 'Việc v́ ai? do ai ?' mà nước ta đáng buồn như vậy. Có hai câu trả lời rơ như ban ngày: Một là do khách quan, hai là do chủ quan.

 

Thằng khá‘Thằng khách  tôi phải xin lỗi là phải dùng tờ như vậy. Bởi v́ trong tiếng Việt th́ kẻ có tội rất to như thế phải bị gọi là thằng. Thằng khách quan nó có vô số cái hoá thân và điều kiện gọi tên rất rành mạch, lúc th́ đó là thằng lịch sử, lúc th́ đó là thằng bối cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng t́nh h́nh chung, lúc th́ đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù địch, thằng đế quốc, thằng thiên tai địch hoạ. Nếu mà nghe như vậy th́ người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta cả. Như vậy th́ chả có lư do ǵ hy vọng và chả có một cuộc toạ đàm nào cần thiết nữa cả. Và nếu có ai mà tin vào những lời tiên đoán của ông giáo sư Thover và ông giáo sư Haustinton, trong cuốn sách cách đây mấy năm rầm rộ là cuốn Cuộc Chiến Văn Hóa rằng Việt Nam sẽ là địa bàn xung đột để Chiến tranh Thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ xẩy ra th́ quả nhiên là chúng ta đáng tuyệt vọng hoàn toàn.

 

Về chủ quan, người Việt Nam không có truyền thống đem cả một dân tộc ra mà tự phê b́nh. Một trong những lư do v́ sao lại làm như vậy? Cũng là ở chỗ khi người ta khi người ta đă suốt cả một số phận luôn luôn là đội sổ rồi th́ ḷng tự tin chẳng c̣n ǵ là lớn lắm. Đấy là tôi muốn nói đến một ḷng tự tin thực sự, chứ không phải là cái thứ tin theo kiểu (vừa đánh vơ mồm vừa run trong ḷng), hoặc là thứ tự tin lưu manh, cứ kích nhau lên để nhằm vụ lợi cho ḿnh. Rơ ràng là tự phê b́nh đ̣i hỏi một cái ḷng tự tin lớn. Tôi cứ nh́n cái cách tự tra vấn ḿnh, tự hành hạ, tự truy tội, tự xỉ vả ḿnh của một dân tộc như dân tộc Đức này mà phải nhận ra rằng: Đó là một dân tộc đă đạt được nhiều thành tựu đến mức nào mới làm cái việc cũng rất ư là quư phái là tự phê b́nh ḿnh như vậy. Như vậy th́ dân tộc Việt trọn gói th́ không có lỗi ǵ đáng kể, nhưng một bộ phận, một bộ phận đầu sỏ của nó th́ bao giờ cũng luôn luôn là đầu mối của mọi tai họa, bộ phận đó như chúng ta được thường xuyên nghe nói, bao giờ cũng là chính quyền, là lực lượng thống trị. Lúc th́ là 'chính quyền Bắc thuộc', lúc th́ là 'vua quan nhà Nguyễn chịu trách nhiệm', lúc th́ 'chính quyền thực dân Pháp chịu trách nhiệm', lúc th́ là 'bè lũ lính Ngụy' và bây giờ không có chính quyền nào khác hơn là chính quyền Cộng sản, th́ chính quyền Cộng sản chịu trách nhiệm. Bảo đúng th́ tất nhiên là đúng. Nhưng như vậy có kỳ cục lắm hay không, chẳng lẽ nạn đói triền miên năm 1945 xẩy ra là do phong kiến thực dân, c̣n bây giờ nạn đói xẩy ra là do Cộng sản hay sao, chẳng lẽ cái thói chạy chọt, vây cánh, cửâ quan, cửa quyền, bợ đỡ... rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất Tố cũng tại Cộng sản hay sao? Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả một thế kỷ 15 chỉ được một ông Nguyễn Trăi, cả một thế kỷ 16 hầu như toàn là nhạt nhẽo và trung b́nh cả th́ cũng tại Cộng sản hay sao? Một trong những nhà phê b́nh văn học sắc xảo nhất của Việt Nam ở hải ngoại, anh Nguyễn Hưng Quốc, hiện là giảng viên của trường Đại học Victoria tại Úc, cách đây 10 năm có viết một cuốn sách nhan đề là Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản. Trong đó anh đi t́m câu giải thích cho t́nh trạng kém cỏi tẻ nhạt của văn học miền Bắc. Trong những vấn đề của chế độ Xă hội chủ nghĩa và hệ thống lư luận Mác-xít. Điều đó tất nhiên là có nhiều phần đúng, nhưng chưa đủ, những năm sau này anh Nguyễn Hưng Quốc đi đến một nhận xét hết sức khổ tâm là văn học Việt Nam ở Hải ngoại tồn tại ở các chế độ dân chủ, tự do hoàn toàn không hề dính líu ǵ đến hệ lư luận Mác-xít, hệ kiểm duyệt Cộng sản, hoàn toàn không có liên quan ǵ đến bộ máy tuyên truyền chính trị chính thống, nhưng cái văn học ấy không khá ǵ hơn tŕ trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt. Tất nhiên là tẻ nhạt theo một kiểu khác. Vậy lời đáp nằm ở đâu?

Việc phê phán cái xă hội nghèo đói, loạn tặc, nhiễu nhương, tạm bợ, không có phương hướng ở Việt Nam, tất nhiên gắn tới việc phê b́nh chính quyền lănh đạo. Thế vậy cái xă hội của người Việt ở ngoài nước, tại cộng đồng Hải ngoại không có mặt sự lănh đạo của chính quyền Cộng sản mà cũng đủ những phẩm tính tương tự th́ chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào? Rơ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá Việt Nam, những vấn đề nghiêm trọng không thể qui vào một chính thể, tập đoàn hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả số phận dân tộc Việt Nam, bắt đầu thậm trí từ Lạc Long Quân, nếu như có ông ấy và bà Âu Cơ và nếu đă mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét th́ có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đă gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam. Bản thân tôi không dám làm cái việc là: điều tra số phận dân tộc, đi t́m 'tướng' cái phần dính líu của cá nhân. Người Việt trí thức hay không trí thức th́ cũng thế thôi. Nói chung nhiệm vụ nhà văn của tôi là không phải đổ trách nhiệm cho ai cả. Vả lại, trong bất kỳ t́nh huống th́ việc trả lời ai có tội, ai có lỗi là không thể giải đáp trọn vẹn được. nhưng mà việc tất yếu mà một nhà văn phải làm ở thời nào cũng thế là khám phá và nếu có thể là khám phá những khía cạnh mà anh ta cho rằng c̣n mờ khuất của con người và cuộc đời. Nhưng không một nhà văn nào khi làm việc đó mà có thể ôm đồm cả thế gian mà quan sát và khám phá được. Bản thân tôi là do gia đ́nh và môi trường sáng tạo, môi trường sống môi trường sáng tác, môi trường làm việc nên không thể nào làm một việc ǵ khác hơn là quan sát và khám phá giới trí thức.Tôi không có thẩm quyền ǵ để có thể phát biểu, chẳng hạn về tư cách của người nông dân hay thợ thuyền Việt Nam cả. Tôi không có một hiểu biết ǵ đáng kể về những điều đó. Song giới trí thức Việt Nam là chủ đề của hầu hết các sáng tác của tôi. V́ vậy mà có một buổi nói chuyện như thế này. Tôi không nghĩ rằng ḿnh có thể vạch ra được một đường hướng nào. Việc chung nhất mà tôi có thể thử làm là khắc hoạ diện mạo của giới trí thức Việt Nam. Bản thân cái việc này là một đề tài mà một cá nhân không thể nào kham nổi. Hôm nay tôi thử tŕnh bày về hai tư cách, mà theo tôi là đáng để ư, đó là: Tư cách chính thống và Tư cách học tṛ:

 

Bây giờ phải xin nói trước để chúng ta có thể dễ đồng ư với nhau về khái niệm là một định nghĩa hoàn hảo về trí thức rơ ràng là không thể có được, ngay cả với những hoàn cảnh c̣n tương đối dễ bao quát như hoàn cảnh Việt Nam. Chúng ta tạm quy ước với nhau là khi nói tới giới trí thức Việt Nam ở đây là nói tới những người mà do học thức tŕnh độ, môi trường sống, thói quen hoặc thậm chí do ngẫu nhiên cũng được, mà hoạt động trí tuệ và tinh thần là thường trực, chủ yếu hoặc đóng vai tṛ đáng kể.

 

Bây giờ tôi xin nói về tư cách Chính thống của trí thức Việt Nam.

Một người bạn vong niên của tôi ở Hà Nội, ông Nguyễn Kiến Giang, gần đây có đưa ra một khái niệm là ’Tính cách pḥ chính thống của trí thức Việt Nam’. Tôi th́ gọi đó là tư cách quan văn, theo cái mô h́nh trị nước là một ông vua có thể u mê, có thể anh minh hai bên tả hữu là quan văn và quan vơ. Tôi gọi tư cách chính thống của trí thức Việt Nam này là Tư cách quan văn . Chúng ta hăy xem lại lịch sử, nếu như bỏ qua cái thời kỳ mông muội khi người săn bắt giỏi nhất, bắt cá khéo nhất, thắng nhiều cuộc vật nhất và có thể có nhiều con nhất bởi v́ được nhiều đàn bà ái mộ nhất; một người như thế được đứng đầu cộng đồng Việt. Nếu chúng ta bỏ qua thời kỳ đó th́ chúng ta có ngay mười mấy thế kỷ toàn trị của giới có học. Khi đó là giới sĩ, một thời gian dài là giới tu sĩ, sau đó tuyệt đối là giới nho sĩ. Chế độ khoa cử với một cái chức năng là chế độ đào tạo và tuyển chọn cán bộ nhân viên nhà nước, đă tự động ghép học thức, tri thức và quyền lực thành một cặp bài trùng. Tri thức vừa là con đường dẫn đến quyền lực và vừa là cách thực hiện quyền lực. Không có ǵ để nghi ngờ nữa là giới sĩ phu Việt Nam trong lịch sử là giới cầm quyền, hay ít nhất cũng là giới thừa hành quyền lực. Nói theo từ hiện đại là toàn bộ guồng máy nhà nước Việt Nam trong lịch sử nằm trong tay các tri thức nho giáo. Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng Người Việt Nam hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ yêu thầy. Theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu mà chữ nghĩa mà không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan th́ cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là sẽ giảm đi đáng kể. Sau cái câu chuyện Pḥ chính thống, câu chuyện Quan văn câu chuyện quan văn chỉ dừng lại khi nho học thất thế. Công bằng mà nói th́ ở một gia đoạn ngắn của lịch sử, tức là ở đầu thế kỷ 20, trong cả nước từ năm 1945, đến năm 1975 ở miền Nam có một cơ hội để cặp bài trùng tri thức và quyền lực có thể tách nhau ra được và quả thực cũng có tách nhau ra phần nào. Nhưng đấy là một khoá học tiếc thay là rất ngắn, quá ngắn để giới trí thức Việt Nam thoát ra khỏi cái ṿng kiềm toả bằng quyền lực chính trị để trở thành một lức lượng độc lập như giới trí thức ở các xă hội dân chủ hiện đại. Chúng ta có thể coi những vận động cải cách dân trí và dân chủ ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 độc lập với cái chính quyền nửa phong kiến và nửa thực dân đương thời. Và quả nhiên có một tầng lớp trí thức văn nghệ sỹ tự do, tức là không ăn lương của nhà nước, không hưởng bổng lộc của chính quyền, không phải là các công chức, viên chức trong bộ máy cai trị. Một tầng lớp như vậy quả nhiên là có xuất hiện, điều này cũng lặp lại ở miền Nam trong khoảng từ năm 1954 đến 1975. Thế nhưng lịch sử đă quyết định diễn ra theo chiều hướng là tự lặp lại. Bi kịch của một người như Phạm Quỳnh, trí thức xuất thân hoàn toàn độc lập có đủ mọi cơ hội và đủ mọi uy tín để tồn tại như một tiếng nói, một uy tín tinh thần, một trọng lượng xă hội độc lập hẳn hoi nhưng cuối cùng cũng không vượt qua nổi sự mê hoặc của quyền lực chính thống. Tất nhiên là Phạm Quỳnh trở thành Thượng Thư Bộ Lại ở trong triều Nguyễn với một hy vọng là mượn những phương tiện chính trị để mà hành cái đạo của ḿnh. Thế nhưng, ông Tây học Phạm Quỳnh vậy là cũng hành động không khác ǵ ông Khổng Tử. Khổng Tử chả làm được điều ǵ khi c̣n đang tại chức, Khổng Tử chỉ có đánh xe đi bát phố, nghe nhạc và b́nh phẩm về đàn bà, về cách hoạ đàn bà là đúng hơn khi tại chức. Và Phạm Quỳnh cũng chả làm được ǵ cho cái đạo của ḿnh trong suốt thời gian làm Bộ trưởng như vậy, và Phạm Quỳnh có lẽ cũng c̣n lâu mới là người trong giới trí thức vừa ghét quyền lực và vừa phục vụ quyền lực như vậy. Từ năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam và đến năm 1975 ở trong hoàn cảnh đất nước th́ có thể nói rằng là câu chuyện của cặp bài trùng trí thức và quyền lực lại được kể tiếp vớin những t́nh tiết thực ra là giống hệt ở trong lịch sử. Chỉ có pha thêm những màn gay cấn đặc trưng của cía thời đại này mà thôi. Tôi cho rằng chỉ có những người rất ưa sơ đồ hóa hiện thực mới cho rằng trong xă hội cộng sản hay xă hội chủ nghĩ ’Tư  không có chỗ cho trí thức. Không phải như vậy nó chỉ không có chỗ cho các trí thức bất đồng quan điểm, bất đ̣ng tư duy mà thôi. Một xă hội của đồng chí tất nhiên không trải chiếu hoa cho những kẻ bất đồng chí. Nhưng điều đó không có ǵ là mới mẻ, không phải là đặc sản riêng của chuyên chính vô sản, mà của bất kỳ nền chuyên chính nào. Một trí thức từng là đồng chí như Nguyễn Trăi khi thành bất đồng chí tất nhiên cũng phải chịu cái cảnh Chu di tam tộc. Và một nhà văn tài hoa từng được coi là thần tượng của sự ngông nghêng, thách thức như Nguyễn Tuân; thực ra cũng có thể so với Nguyễn Du; bất măn th́ có bất măn, bất đồng th́ có bất đồng nhưng cả hai th́ dù có miễn cưỡng hay tự nguyện cuối cùng cũng để cho chính quyền trọng dụng ḿnh. Nguyễn Du th́ đóng vai đại sứ đi công cán ở nước ngoài - một chức vụ thực sự là không thấp hèn ǵ. Nguyễn Tuân th́ cũng vậy. Hồi sinh viên tôi thường tự hỏi: Tại sao lại như thế? Phải tay tôi th́ không bao giờ chịu để ḿnh ở cái thế há miệng mắc quai như vậy thế; nhưng v́ tôi c̣n chưa hiểu về cái thế Pḥ chính thống, cái thế quan văn của trí thức Việt Nam, một cái thế quả nhiên là rất há ảnh ’Chu di

 

Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam, thực ra là một cuộc cách mạng hoàn toàn là do giới trí thức lănh đạo c̣n quần chúng cách mạng th́ thời nào cũng vậy là đám đông, và đám đông trong một nước nông nghiệp là tất nhiên là nông dân. Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức lănh đạo một đám nông dân tranh đấu cho quyền lợi của một giai cấp khác, đó là giai cấp công nhân. Nếu chúng ta nói như vậy th́ việc các quyền lợi dẫm lên nhau, sự không đồng bộ của nhân sự và khả năng phản bội của những bên tham gia đă được định trước.

 

Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ tôi chỉ muốn nói sự tham gia của trí thức Việt Nam ở buổi ban đầu của cuộc cách mạng, rồi khi cách mạng quay ra ăn thịt những đứa con đẻ của ḿnh và bây giờ th́ rơ ràng là cách mạng đă về hưu. Mối t́nh của chủ nghĩa cộng sản và trí thức nhất là trí thức cánh tả trên toàn thế giới là một mối t́nh phức tạp, đẫm nước mắt và đẫm máu. Nhưng tôi dám nói rằng chính cái cuộc t́nh hết sức lăng mạn và nồng nhiệt của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam thuở ấy đă chắp cánh cho cách mạng khiến cho nó không chỉ là cuộc khởi nghĩa nông dân, bạo đ ’ăn thịt’ những đứa

 

Điều ǵ diễn ra khi cách mạng không chỉ c̣n là một ư tưởng và một lư tưởng mà đă trở thành một hiện thức một chế độ, một guồng máy khổng lồ. Tôi xin trích ra ở đây một vài ḍng nhật kư của Trần Dần năm 1958 vào cái thời điểm mà người ngoài tưởng là sự nổi dậy trong văn giới Việt Nam được biết đến dưới cái tên Nhân văn Giai phẩm c̣n rất là sôi sục. Ông ghi ngày 08-01-1958 như n

Tin chạy x́ xầm xung quanh rất là ghê gớm, rằng Báo Văn là một cái dớt của Nhân Văn, rằng Nhà xuất bản Hội nhà văn bị lái, rằng Câu lạc bộ thành nơi hoạt động của bọn Nhân Văn, chúng ra tay chèo lái một cách tinh vi. Sự thật ra bọn Nhân Văn ấy non năm nay họ đă theo một cái chính sách ǵ? Có thể tóm chính sách của họ là: Sợ - Cầu an - Cố đi gần lănh đạo - Dao động chán nản - một ngón tay Nhân Văn cũng không có. Non năm nay họ đă nằm bẹp cả xuống vắt tay lên suy nghĩ các nhà hiền triết cả rồi, họ c̣n cái khao khát chiến thắng của những người tiến bộ nữa đâu. Nói đúng ra họ vẫn mong đợi sự tiến bộ sẽ thắng, song họ sẽ mong nó thắng bằng cách ích kỷ, tức là bằng bàn tay thúc đẩy của kẻ khác hơn là bàn tay họ, như vậy đỡ nguy hiểm hơn. Giá lănh đạo thuyết phục, họ sẽ có cơ giác ngộ trở nên con nhà nết na nữa cũng nên, đằng này lănh đạo cứ cái chính sách ụi thục vô lư măi, họ càng tủi thân và thất vọng. Tôi biết họ chỉ mong một điều là: Mong thánh đế hồi tâ’Tin chạy

 

Những ḍng ấy được viết ra do một trong những người cứng cổ nhất trong Nhân Văn-Giai Phẩm là Trần Dần, tôi xin lưu ư những khái niệm như Cố đi gần lănh đạo - Lănh đạo thuyết phục - Mong Thánh đế hồi tâm. Tôi cho rằng không cần phải nhiều lời nữa để mô tả cái tính cách pḥ chính thống này của văn nghệ sĩ Việt Nam. Nếu có một trí thức thực sự ly pha với quyền lực, ly pha với quyền lực không lấy ǵ làm đẹp đẽ lắm của chế độ cộng sản th́ phải có mười trí thức đang nằm chờ ngày Thánh đế hồi tâm và có một trăm trí thức không làm ǵ khác hơn là để cho cái chính quyền ấy trọng dụng ḿời

 

Mao Trạch Đông trong bài nói chuyện nổi tiếng ở Thiên An có tuyên bố thẳng thừng: Trí thức là cục phân, nhưng người am hiểu hiện thực của Chủ nghĩa xă hội phải nói: Trí thức là cục vàng - những cục vàng ấy là báu vật nằm trong tay những nhà cầm quyền. Ở một địa vị như vậy th́ có lư do ǵ để mà thay đổi! Người ta có thể gọi đó là cái hèn, cái nhu nhược, cái cầu an, c̣n tôi gọi đó là cái nghiện, nghiện chính thống. Nghiện suốt cả một lịch sử th́ không dễ ǵ một vài ngày mà cai ngay được. Người nghiện th́ ít khi trách cái sự nghiện của ḿnh mà có chăng chỉ đổ tội cho cái làm ḿnh nghiện. Chúng ta phải buộc ḷng đi đến một kết luận: Khi tự đồng nhất ḿnh ở mức độ cao như vậy với giai cấp thống trị, bất kể là giai cấp cao như thế nào th́ cái bộ phận ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam là trí thức Việt Nam mặc nhiên phải đánh mất cái thôi thúc cải thiện thay đổi xă hội. Một ông tri thức trong đám nho giáo làm quan tất nhiên là không bao giờ nảy sinh ra sáng kiến xóa nạn mù chữ trong đám dân đen. Bởi lẽ ông ta chỉ hơn họ có mấy trăm chữ ở trong bụng. Một ông phụ trách trong Ban Văn hóa-Văn nghệ tất nhiên là không khuyến khích ǵ những thứ thơ văn mới lạ, bởi lẽ nếu thiên hạ mà đi say mê thứ văn thơ mớ lạ đó th́ thơ ông ta ai đọc? Kinh nghiệm của chính bản thân tôi ở trong nước, với tư cách là một nhà văn hiện nay không được phép công bố tác phẩm ở trong nước là: Chưa có bố "ông Đảng" hay một "ông Công an" nào có cơ hội đọc duyệt tác phẩm của tôi cả. Bởi v́ sao? Bởi, trước khi các vị đó xem đến bản thảo của tôi th́ các đồng nghiệp của tôi ngồi ở những chức vị rất nhiều quyền lực đă kiểm duyệt hộ chính quyền từ khuya rồi!

 

 

Kỳ 2

(Đăng trên báo Cánh Én số 112, tháng 04-2001)

 

Bây giờ tôi xin nói đến tư cách học tṛ của trí thức Việt Nam.

Thực ra dân tộc Việt không phải tiếp xúc với những kẻ đến từ nên văn minh cao hơn và mạnh hơn hẳn. Láng giềng của nước Viêt một thuở như chúng ta đă biết là: Chiêm Thành, Ai Lao, Phù Nam, Khơme, Chiêm La, Xiêm La, Chà Và, Nhật Bản; đương nhiên là người Việt cũng tiếp thu điều này, điều nọ trong quá tŕnh giao lưu với họ. Thế nhưng chúng ta có thể lấy hẳn của người Chiêm Thành một giống lúa chiêm mà chả buồn học hỏi ǵ nhiều ở văn hoá và ngôn ngữ của họ. Chúng ta lấy biết bao điệu nhạc buồn của họ vào chính cái quan họ Bắc Ninh nổi tiếng. Chúng ta đă khiến cho cái làn điệu dân ca đó trở nên buồn nhất trong các làn điệu dân ca của miền Bắc nói chung, lúc đó miền Bắc là cái nôi văn hoá và lúc đó Việt Nam chỉ dừng lại ở miền Bắc. Chúng ta lấy của họ như vậy mà chả buồn học hỏi điều ǵ ở họ, không buồn nghiên cứu chút ǵ về họ và thậm chí dường như chúng ta chôn phắt họ đi không tiếc nuối ǵ hết. Như vậy ở một cái thế của kẻ mạnh hoặc ít nhất ở cái thế của kẻ bằng vai th́ người Việt chẳng thèm học hỏi ai cả, chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả. Thế nhưng khi ở cái thế của kẻ yếu, của kẻ bị chinh phục, bị khinh bỉ, bị nhục nhă th́ sự học hỏi của chúng ta mới vội vă bắt đàu. Tôi biết trong một tác phẩm về việc người Việt chẳng có ai buồn học biết Nhật như sau: ... người Nhật chiếm nước này chưa đủ dài để người nước này thèm tiếng Nhật, nỗi nhục chưa ngả th́ ḷng yê sau:

 

Cái sự học của trí thức Việt Nam trong cái giằng xé giữa một bên là nỗi nhục một bên là ḷng yêu là một sự học đầy mâu thuẫn, thậm chí có thể nói là bệnh hoạn đầy những đau khổ mà bản thân tôi có thể chia sẻ nhiều phần. Ta hăy lấy ví dụ về việc học này qua cách sáng tạo chữ viết. Cả người Việt lẫn người Nhật đều không có chữ viết riêng. Trung Hoa th́ lại có chữ viết, nhưng Trung Hoa lại không băng qua biển mà mang chữ viết đến cho người Nhật. Và nói chung th́ Trung Hoa là một nước lục địa họ tin ở con ngựa hơn con thuyền, một cái từ mà chúng ta gán cho họ dùng để chỉ họ là người Tầu thật ra chả đúng tư nào, họ là dân tộc không liên quan đến tầu bè. Trung Hoa rơ ràng không băng qua biển để cưỡng bách người Nhật phải học sách Tầu và viết chữ Tầu, mà chính là người Nhật đă tự động băng qua biển đến Trung Hoa rồi khuân một ít văn hóa Trung Hoa, trong đó có chữ viết về nhà họ để dùng tạm trong lúc c̣n thiếu thốn. Cái thái độ đi học của người Nhật như vậy là thái độ chủ động tích cực và có sự ṣng phẳng của nó, cần th́ đọc, thích th́ đọc, hoàn toàn là tự nguyện. Và một khi người Nhật đă mất công lặn lội như vậy để khuân về nhà từng ấy bộ chữ Trung Quốc th́ họ cũng dùng hết, không vứt đi đâu bộ nào cả. Tất nhiên, không phải ngày một ngày hai, nhưng sau trên dưới khoảng mười thế kỷ sau nhiều thất bại th́ người Nhật cũng dùng được bộ chữ Trung Quốc trong việc ghi lại tiếng Nhật. Chữ Nhật ra đời và trụ được cho đến ngày nay trên cơ sở bộ chữ Tầu giản tiện. Một người Nhật biết tiếng Tầu th́ rất đáng quư, thế nhưng nếu không biết th́ họ vẫn có khả năng dùng tốt chữ Nhật của họ. Họ đă thành công trong việc đi học ở nước ngoài và làm ra được cái mà họ chưa có. Họ là hạng học tṛ ời ‘Tầu’

 

C̣n việc sáng tạo chữ viết của người Việt diễn ra như thế nào? Người Việt chúng ta chẳng cần lặn lội sang Tầu mà học hỏi ǵ cả, mà chính là người Tầu mang một núi khí giới, một rừng người đến trước, rồi sau đó khuôn một ḥm sách sang sau. Dĩ nhiên là người Việt vừa học vừa chửi, giống hệt như vừa học vừa chửi người Pháp, vừa học vừa chửi người Liên Xô, vừa học vừa chửi người Mỹ. Cái sự vừa học vừa chửi này nó biến thiên qua nhiều cấp độ và tuỳ vào diễn biến và triển vọng trong mối quan hệ giữa thầy và tṛ. Ở trong dân gian cái thái độ lưỡng phân này thường bùng nổ chỉ ở thời gian đầu và sau đó th́ có thể nói là cái ǵ của ta sẵn có, cái ǵ mà nó bắt ta phải học dần dần cũng đồng hoá vào nhau ở cấp độ dân dă đôi khi không phân biệt nổi xuất xứ nữa. Thí dụ như nói dến ông Bụt chẳng hạn, nào ai c̣n rạch ṛi rằng đấy là một ngoại kiều Ấn Độ mà tên phải gọi là Buddha cơ, nào có ai phải rạch ṛi đến thế đâu. Nhưng trong giới trí thức th́ cái thái độ lưỡng phân kia là cả một tấm bi hài kịch có pha đầy phi lư, những điều trái khoáy, những pha nực cười và tất nhiên là rất nhiều pha rất là vô duyên. Với giới trí thức Việt Nam th́ chỗ này có sự rạch ṛi của nó. Cái học thuyết của ông Bụt không mang tên là Bụt giáo mà mang tên là Phật giáo, bởi lẽ giữa chữ Bụt và chữ Phật có một khoảng trống, và trong khoảng trống ấy là ông thầy Trung Hoa. Việc người Việt luôn có những kẻ thù mạnh và giỏi hơn ḿnh nên người Việt buộc phải tiếp thu cái nền văn minh của kẻ thù, viêc ấy vừa là một bất hạnh vừa là một diễm phúc. Rơ ràng là trên đời chả có cái ǵ là không có ít nhất là hai mặt của nó, chỉ có điều sức mạnh và tầm vóc của một nền văn hoá biểu hiện ra ở chính cái chỗ mà nó vận động như thế nào trong cái sự phức tạp đa chiều đó. Nó có đủ khả năng khống chế sự bất hạnh và khuyếch trương cái diễm phúc kia lên không, hay là ngược lại nó chả có một chủ trương chiến lược nào cả, cứ tiện lúc nào sướng cái hay của Tây của Tầu th́ khen lấy được, học lấy được, lúc nào cáu lên th́ vứt hết dẹp hết quay về trâu ta ăn cỏ đ̣ng ta. Và tôi ngờ rằng cái sự tuỳ tiện này chính là sự ứng xử của chúng ta. Người ta có thể cho cái sự tuỳ tiện một cái tên quan trọng hơn là Sự linh hoạt chẳng hạn, nhưng tên có hay như thế nào th́ cũng không thể kéo cái hiện thực dở đó theo được. Những kẻ bị buộc phải đi học trong t́nh thế lưỡng phân th́ phải dẫn đến hệ quả ǵ? Một trong những hệ quả là hắn không bao giờ học hết chữ thầy. Mới học được nửa trang, mới đọc được nửa trang, học đến nửa quyển sách th́ cái phanh của ḷng yêu nước, ḷng căm thù ngoại xâm (Tất nhiên là những cái đó rất chính đáng!) đă chặn lại và hắn nhất quyết quay xa với khẩu hiệu Tự lực cánh sinh, hoặc phương châm sáng tạo ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam nghiên cứu đối phương. Chẳng hạn khi người ta có một kẻ thù th́ phải nghiên cứu nó và đó là động cơ để học hỏi nền văn minh của kẻ thù. Chỉ có điều tôi cảm giác rằng sự học, sự nghiên cứu của chúng ta chỉ dừng lại ở cái mức tin tức t́nh báo, đại loại như cái thông tin rằng quân Nguyên Mông không thạo đường thuỷ, hay đại quân hậu cần của giặc hiện đang tắc nghẽn ở đoạn nào. Chắc là cái sự học sự nghiên cứu của chúng ta nó dừng lại ở chỗ ấy, nó khác hẳn sự nghiên cứu của người Tầu, người Pháp, người Mỹ về chúng ta. Có một thực tế là các học giả Việt Nam ngày nay muốn thực sự nghiên cứu về Việt Nam th́ không thể không sang Trung Quốc, Pháp và Mỹ để ngồi đọc tài liệu Việt Nam, mà những nước đó đem về giữ trong những thư viện và trong văn khố của họ. Tôi có một người bạn, hiện nay đang lang thang ở các trường đại học Mỹ để nghiên cứu về Phan Khôi. Một cái hành tŕnh hết sức ṿng vo v́ sao? Để nghiên cứu về Phan Khôi th́ anh phải đọc báo của Việt Nam ở những năm 30, những báo th́ chúng ta không giữ lại đầy đủ, chúng ta không giữ lại theo đúng tinh thần của người Việt là thời nào biết chuyện của thời đó, thời nào khoanh lại thời đó, thế hệ nào khoanh lại thế hệ đó không có dính líu ǵ đến thế hệ sau nữa cả. Nhưng người Pháp th́ khuân những thứ báo đó về Pháp, không phải chỉ khuân một bản mà khuân nhiều bản. Cái bản thừa, bản đúp th́ họ bán lại cho người Mỹ và bây giờ th́ Bộ văn hoá Pháp cấp cho một nhà nghiên cứu Việt Nam một khoản tài trợ để nhà nghiên cứu Việt Nam sang Mỹ mua số báo Việt Nam đă được Pháp bán lại cho Mỹ, để nghiên cứu về một nhân vật Việt Nam đàu thế kỷ. Đối với giới sử học Việt Nam, các công tŕnh của cơ quan nghiên cứu Pháp tại Viễn Đông-Bác Cổ là một chỗ dựa không thể thay thế nổi. Rơ ràng là thực dân Pháp muốn chinh phục và bám trụ ở Đông Dương và điều đó th́ không có ǵ để bàn căi cả. Để làm điều ấy th́ họ cần hiểu biết về cái xứ sở mà họ muốn chiếm giữ, hiểu biết tường tận về văn hoá, một nền văn hoá xa lạ với họ, chứ không phải chỉ là thu thập những tin tức t́nh báo. Chắc chắn là hoạt động của Viễn Đông- Bác Cổ do Bộ thuộc địa Pháp tài trợ. Các học giả và trí thức Pháp có thể bị dùng vào công việc không lấy ǵ làm đẹp đẽ lắm, song bản thân công việc của họ diễn ra nghiêm túc và thấu đáo. C̣n các học giả Việt Nam có thể là công cụ cho một mục đích chính đáng, song kết quả công việc của họ lại tạm bợ và một ‘ngoại

 

Xét về phương diện này th́ trí thức Việt Nam ngoại lệ nhất là Nguyễn Trường Tộ và bản thân Tự Đức cũng là một bậc trí thức không đến nỗi là ngu dân như trong sách sử mô tả. Song như chúng ta đă biết, trong chương tŕnh Canh Tân được Nguyễn Trường Tộ đề nghị và rất nhiều điểm cũng được Tự Đức tán đồng không hề được thực hiện. Đa số giới cầm quyền đương thời cũng là các bậc học giả hiểu cao, biết rộng, họ có đủ lư do cần thiết để cản trở chương tŕnh Canh Tân đó, mà cái lư do là Nguyễn Trường Tộ là người theo đạo Tây chỉ là một cái cớ.

 

Một mặt th́ chưa học tới nơi tới chốn đă sốt sắng sáng tạo để rồi toàn đi đến những kết quả nửa vời như vậy, mặt khác khi chỉ c̣n một ḿnh với cái đống sáng tạo dở dang không dùng được đó th́ người trí thức Việt Nam mới lại trở thành một học tṛ ngoan thậm chí rất ngoan. Ngoan tới mức thành kẻ nô lệ, thành bảo hoàng hơn vua. Thậm chí Khổng Tử hơn cả Khổng Tử, ga-lăng hơn cả người Pháp, Mác-xít hơn cả cha đẻ của Mác-xít. Lúc bấy giờ cái người học tṛ thích sáng tạo ấy tự phong cho ḿnh những cái danh hiệu chẳng hạn là đại diện xứng đáng nhất cho những trường phái ǵ ǵ đó của những ông thầy ǵ ǵ đó... Khi Trung Hoa đă là Trung Hoa dân quốc, trí thức Trung Hoa đă miệt mài ngồi dịch sách của Rousseau, Montesquieu, th́ lúc đó trí thức Việt Nam vẫn c̣n chết ch́m trong cái mớ Thi Vân Tử Viết' (?...) của ḿnh, và triều Nguyễn lúc đó c̣n trưng ra những nghi lễ nho giáo c̣n khắt khe hơn triều đ́nh Bắc Kinh một thuở. Ví dụ, ta có thể lấy chủ nghĩa lăng mạn trong văn học Việt Nam Tiền chiến làm ví dụ cho việc này. Tất nhiên là phong trào Thơ mới và Văn xuôi 1930-1945 là một bước tiến khổng lồ cho văn học Việt Nam, song thần tượng của nó, nguồn ảnh hưởng của nó từ văn học Pháp lúc đó là những thứ đă diễn ra trước đó có khi cả thế kỷ. Cái mà ông thầy Pháp đă bỏ đi trong giáo tŕnh của ḿnh từ mấy đời th́ anh học tṛ Việt vẫn c̣n nghiền ngẫm say xưa lắm, c̣n cái mà ông thầy ấy đang giảng ở trên lớp th́ anh học tṛ ấy chỉ nghe có một nửa tai rồi bảo rằng: Cái đoạn này th́ ta nên tự lực cánh sinh. Cho đến tận bây giờ cái tinh thần của văn chương lăng mạn tiền chiến vẫn chế ngự trong văn chương hiện đại, nếu có ai phê b́nh th́ các vị ư vênh mặt lên bảo rằng: Văn chương Pháp cũng thế, dám chê cả văn chương Pháp à!? Song những điều đang diễn ra trong văn học Pháp th́ chẳng có ai buồn học, có bảo là phải học th́ các vị ư lại bảo: Biết cả rồi, xoàng cả thôi, cũng chả hơn ǵ ta đâu, ḿnh làm có khi c̣n hay hơn! Như thế th́ hỏi làm sao mà văn chương nghệ thuật nước ta không luôn luôn đi lạc một bước, ít nhất là một bước sau thế giới. Năm mươi năm nữa chẳng hạn các học tṛ Việt lại đi mở những thứ sách của thế giới bây giờ ra để học lấy học để, đă học như thế th́ lấy đâu ra thời gian để học chính những thứ đang cùng thời với ḿnh. Hỏi làm sao cái học đó không phải là cái học viển vôớ

Giữa chủ động nô lệ và chủ động sáng tạo ta có thể quan sát rơ ở các trí thức Việt, nhất là khi họ đi ra nước ngoài để học hỏi. Chẳng hạn, khi ra nước ngoài học về khoa học quản lư, là một thứ mà chúng ta chưa bao giờ có. Rơ ràng trước khi một nước phương Tây quyết định đầu tư vào một chỗ nào đó ở Việt Nam th́ họ đành phải làm cái việc không đừng được là đào tạo, cũng như việc họ bán cho chúng ta một cái máy bay th́ họ phải làm cái việc là đào tạo cho chúng ta một anh phi công, đấy là chuyện họ không đừng được. Như vậy là trí thức Việt cắp cặp đi học khoa học quản lư hiện đại, chữ thầy được mười th́ học tṛ nghe được một, thôi thế th́ cũng là may rồi. Nhưng cái mà tôi thường xuyên chứng kiến ở những người đó là họ sẵn sàng vứt tất cả một phần đó đi, và bảo rằng: Úi trời, cái kiểu quản lư này không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam! Cũng là có lư chứ không phải là không có lư, tất nhiên là không ai đi bệ nguyên xi nước ngoài về mà dùng được, chuyện đó tôi không bàn. Tinh thần sáng tạo th́ bao giờ cũng muôn năm cả, thế nhưng cũng chính những người đó khi quay trở về nước đối mặt với những lề lối quản lư rất Việt Nam, rất mông muội, rất trung cổ th́ lại giương cái sở học của ḿnh trong các chuyến đào tạo ở nước ngoài như vậy ra mà bảo rằng: Tây nó làm như thế, Tây nó khác, Tây nó phải như thế; Không được thế này... Không được thế kia... Nhưng Tây nó bảo như thế nào th́ không c̣n nhớ nữa, thế là lại đi học nữa! Xă hội Việt Nam sinh ra một tầng lớp trí thức không làm điều ǵ khác hơn là suốt đời đi học như vậy. Cứ đến lớp th́ chê thầy, cứ về nhà th́ nhớ thầy xin cắp cặp theo học lại. Suốt đời đi học như vậy, như thế th́ làm sao được như người Nhật tự làm ra chữ viết cho ḿ ‘Úi

 

Chữ Nôm Việt Nam được làm ra về xuất phát điểm thực ra không khác ǵ chữ Nhật, chỉ có điểm khác là nó không thành công. Muốn dùng chữ Nôm th́ người ta phải biết dùng chữ Hán trước đă, rồi sau đó phải học nguyên tắc cấu trúc chữ Hán vốn rất là phức tạp như vậy vào làm sao cho nó thành ra cái gọi là chữ Nôm. Tôi lấy một ví dụ: chữ Trời chẳng hạn, muốn viết ra mặt giấy th́ ta phải viết như thế nào? Th́ người ta phải biết hai chữ Hán là chữ Thiên và chữ Thượng, phải biết cách ghép hai chữ này lại với nhau để thành một chữ Trời. Quả nhiên là một cái logic vô cùng kinh hoàng đối với h́nh dung của tôi, cứ làm như c̣n một cái Thiên nào khác ngoài cái Thượng đó. Mà đă thế sao không dùng luôn tiếng Hán chỉ có một chữ Thiên là xong, tại sao lại hai lần tiếng Hán như thế gộp vào nhau để ra thành chữ Trời? Trong cái công tŕnh sáng tạo chữ Nôm ấy, rơ rà dụ: "Sáng tạo là ǵ? -  Là ghép hai cái dập khuôn vào với nhau! Tôi chưa bao giờ dám tự hào về cái chữ Nôm mà theo tôi (xin lỗi các vị) (?..) là điển h́nh cho cái tinh thần khổ dân (?..). Phải học cái chữ của kẻ thù th́ đơn giản là khổ thôi, nhưng học cái chữ của ḿnh bằng cách hai lần đi qua chữ của kẻ thù th́ là sướng? Như thế th́ chẳng phải khổ dân (?..) th́ là cái ǵ? Song kết cục quá tŕnh làm ra chữ viết như thế nào th́ lại là bất ngờ lớn cho chúng ta, chữ quốc ngữ là tác phẩm của một số cha cố Ḍng Tên. Cái may của chúng ta trong câu chuyện này là những người truyền giáo có mặt ở Việt Nam trong một thời gian dài, có ảnh hưởng quan trọng là các vị Ḍng Tên nổi tiếng là những trí thức tu sĩ uyên bác, có năng khiếu ngoại ngữ và có một ḷng khoan thứ nhất định đối với những tín ngưỡng khác, chứ không phải là các vị của Ḍng Donimique (?..) như trong trưo với nhau!’ Tôi chưa bao giờ

 

Những căn bệnh khác của "người học tṛ Việt Nam" trong t́nh thế lưỡng phân này chúng ta có thể kể ra. Học như vậy th́ không thể không mặc cảm. Đương nhiên là phải thấy ḿnh bé nhỏ, kém cỏi trước cái khổng lồ, phong phú và cái ưu thế của các thành tựu văn hoá khác. Tôi thực sự chưa được chứng kiến một trí thức hay một văn sĩ Việt Nam nào có một ḷng tự tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước ngoài. Nếu mặc cảm như vậy th́ không thể không chán nản mà ỳ ra và ăn sẵn. Dường như trí thức Việt Nam có thể rất yên tâm mà nghĩ rằng: Không có chúng ta th́ thế giới vẫn tiến bộ ầm ầm. Thế th́ hăy đợi người ta tiến bộ mà ăn nhờ có phải là đỡ mất công hay không, mà đằng nào nếu ḿnh làm th́ có ra ǵ đâu mà làm. Thế nhưng ăn sẵn cũng có rất nhiều cách ăn sẵn. Cái cách ăn sẵn của trí thức Việt Nam chúng ta nó chẳng giống ai cả, c̣n chọn chán, c̣n chê chán, c̣n chặt miếng ra và chọn miếng nào cho vừa mồm ḿnh, vừa khẩu vị ḿnh, dễ cho cái bụng ḿnh tiêu hoá th́ mới dùng. Tất nhiên điều đó cũng có cái hợp lư của nó, song v́ sao không thử xem lại cái miệng ḿnh có nhỏ quá hay không, khẩu vị của ḿnh có cần thay đổi đi hay không và bụng dạ ḿnh có c̣n đủ tốt để tiêu hoá cái ǵ đó hay khô rằng:

 

Tóm lại, khi cái học của một tầng lớp có học của chúng ta như thế th́ cái học ấy có hơn ǵ sự vô học của một đám đông hay không. Hỏi làm sao mà cái học ấy không giúp ǵ được ai. Tôi xin dừng lại ở đây.

 

Phạm Thị Hoài

 

LTS: Dưới đây thư trao đổi giữa chị Phạm Thị Hoài và anh Phạm Hoàng xung quanh bài Tọa đàm và cuộc Thảo luận. Chúng tôi xin giới thiệu tới diễn đàn; kèm lời tái xin lỗi (và lời... thanh minh cho sự hiểu nhầm và chậm trễ này: có thể là do trung gian Ban tổ chức cuộc Tọa đàm 10.2000, Berlin mà sự liên lạc giữa anh PHoàng và chị PTHoài chưa được ổn thỏa chăng?

Mong rằng cuộc Thảo luận về đề tài "Trí thức - Văn Nghệ Sĩ và Thời Cuộc Việt Nam" hẳn sẽ có thêm một không khí mới; Và, để từ đó đạt được thành quả tốt hơn, như lời chị PTHoài, trong thư: "Tôi thành thực hy vọng cuộc thảo luận rộng răi của các anh chị có thể vượt ra khỏi khuôn khổ buổi nói chuyện của tôi, sự đồng t́nh hay phản đối sẽ không giết chết đề tài, mà cho nó những tương quan mới."

 

 

Thư của chị Phạm Thị Hoài gửi anh Phạm Hoàng

 

 

Thưa anh Phạm Hoàng, 

Một bài nói chuyện trong ṿng một tiếng đồng hồ, trước một cử toạ hơn 50 người thuộc những tŕnh độ, học vấn, nghề nghiệp, tuổi tác khác nhau, như bài nói chuyện của tôi ở Berlin tháng 10 năm ngoái, đương nhiên không phải là một bài diễn văn viết sẵn, lại càng không phải là một công tŕnh nghiên cứu, cũng như không phải một essay văn chương. V́ vậy, tôi đă yên tâm là những người có nhă ư phổ biến bài nói chuyện ấy thông cảm cho yêu cầu của tôi ngay từ đầu rằng, không thể đem nó đăng tải được. Một bài đăng tải cần ít nhất một lối bố cục, hành văn và từ vựng khác, và trên hết, nó cần một consensus trong phạm vi đăng tải, để chẳng hạn khỏi sa vào những vấn đề coi như đă được giải quyết trong consensus đó. Xin lấy một ví dụ nhỏ về việc không xuất phát từ cùng một consensus: Một tờ báo nghiêm nghị ở Việt Nam có đăng bài phê b́nh lối quảng cáo câu khách của thị trường. Một trong những luận điểm đưa ra là tính vô luân của quảng cáo, nó khuyến khích người ta từ bỏ những giá trị cao quư như lao động (thuyền đang đánh cá) và coi thường cả tính mạng (dưới nước nhiều cá mập) mà lao xuống biển đuổi theo một lon Coca Cola lỡ rơi.

Đó là những điều kiện tối thiểu cho việc đăng tải.

 

Diễn đàn của các anh chị đă bỏ qua yêu cầu này. Ngày 24.05 tôi mới chính thức được thông báo về việc tạp chí Cánh Én đă đăng bài nói chuyện trên cơ sở băng ghi âm và sau đó là cuộc thảo luận trên lưới từ nhiều tuần nay. Bây giờ th́ việc đính chính hay xin lỗi tác giả không c̣n ư nghĩa nữa.

 

Tôi thành thực hy vọng cuộc thảo luận rộng răi của các anh chị có thể vượt ra khỏi khuôn khổ buổi nói chuyện của tôi, sự đồng t́nh hay phản đối sẽ không giết chết đề tài, mà cho nó những tương quan mới.

V́ lư do thời gian, tôi đă không tŕnh bày được một vấn đề khác trong buổi nói chuyện nêu trên là: tư cách đàn ông của trí thức Việt Nam, đặc biệt thông qua ví dụ về tính macho kiểu Việt trong văn chương Việt Nam.

Cũng xin lưu ư thêm, cuốn nhật kư vừa ra mắt của Trần Dần nhan đề Ghi 1954-1960 do td mémoire xuất bản, Văn Nghệ in và phát hành, tôi là người biên soạn, có thể cho biết nhiều khía cạnh về trí thức và quyền lực tại miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn đó.

Việc cá nhân cũng như tác phẩm của tôi được một số người đặc biệt quan tâm trong cuộc thảo luận này cũng là lẽ thường, bởi điều nói ra tự nó là một phần, song phần khác đương nhiên do người diễn đạt, mà nghề của tôi là nghề t́m cách diễn đạt những điều tự chúng không có ǵ là mới mẻ. Song để tránh chiếm nhiều chỗ hơn mức cần thiết, tôi có thể cung cấp một chân dung PTHoài, gồm tất cả những chi tiết và đặc điểm nhận dạng mà những người biết rơ tôi hơn tôi đă khẳng định. Mong rằng nó sẽ thoả măn được người quan tâm, khiến người đó có thể chuyển sang hướng khác, sau khi yên tâm kết luận rằng một chân dung thảm hại như vậy cũng được tiếng là một nhà văn có chút tên tuổi th́ đủ biết trí thức của chúng ta ở tầm mức nào.

Riêng bài viết của cụ Phù Vân (thể theo yêu cầu về xưng hô của cụ, tôi xin dùng chữ cụ cho an toàn, bởi không biết tuổi tác, giới tính hay danh vị), là một mẫu mực về sự sáng suốt, chân thành và tôn trọng phụ nữ, lại được cụ có nhă ư gửi đích danh đến địa chỉ riêng, vậy tôi xin phép được lấy bài ấy làm tư liệu văn học để dùng trong công việc sau này. Ngoài ra, cụ c̣n vận dụng truyền thống thượng vơ của dân tộc vào môn thể-thao-kiến-thức vốn được chúng ta ưa chuộng. Tôi từng được một nhà thể-thao-kiến- thức gọi ra thi đấu như sau: PTHoài bảo một nhân vật của ḿnh là phong độ như Lăo Trang, vậy là PTH thậm chí không biết rằng chỉ có Lăo Tử và Trang Tử, hai người khác nhau, chứ không có ai tên là Lăo Trang cả. Lần ấy tôi đă ph́ cười mà xin thua cuộc ngay từ đầu cho tiện. Song cụ Phù Vân vô cùng nghiêm túc và hết ḿnh cho lẽ phải, tôi e cười là phạm thượng, đừng chẳng được chắc cũng phải thể-thao-kiến-thức một phen.

 

Thưa anh,

Là một trong những người điều khiển cuộc thảo luận, mong anh cho biết, nếu diễn đàn của các anh chị cho là cần thiết, tôi xin gửi cái chân dung PTH ấy và xin lên vơ-đài-kiến-thức. Nếu không cần, chúng ta có thể hoàn toàn tập trung vào đề tài.

Phạm Thị Hoài

 

Vài Tản Mạn Nhân Đọc “Tổ Quốc Ăn Năn”

Trần Trung Việt

Đất nước suy vong, trách nhiệm trước hết thuộc về những người trí thức[i][i]. Nhưng, đứng trước cái thực trạng bi đát của quê hương hôm nay, sau lưng là quá khứ của một cuộc chiến xương máu mà vết thương đến nay, một phần tư thế kỷ đă qua, vẫn chưa lành và trước mặt là một ngỏ cụt vô vọng, nổi trăn trở trong mỗi người trí thức Việt Nam có lẽ lớn hơn bao giờ hết. Buồn trước phận nước long đong như Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa th́ cũng có thể về sống ung dung với một chữ NHÀN “nơi vắng vẻ” [ii][ii], cho nó chỉ là một thời mạt vận. Mà nếu ta chỉ có buồn thôi th́ cũng không dằn vặt lắm. Trí thức Việt Nam dằn vặt v́ phải cưu mang một mối nhục là con dân của một đất nước đói nghèo, lạc hậu; như dân tộc Việt Nam hơn một trăm năm nay vẫn phải cưu mang những mối nhục: nhục bị thống trị bởi ngoại bang, nhục v́ phải chiến tranh tàn sát lẫn nhau, nhục v́ đất nước độc lập rồi mà vẫn không có tự do, vẫn giết chóc, vẫn tù tội, vẫn ruồng bỏ nhau và bị người ta ruồng bỏ. Trí thức Việt Nam ngày nay không có được cái may mắn của người xưa, thu ḿnh vào chốn điền viên, “bàn cờ, cuộc rượu, vầy hoa trúc”[iii][iii], xuưt xoa vết thương ḷng chờ đến thời hưng trị. Bởi, nếu chúng ta thu ḿnh, thời hưng trị sẽ không bao giờ đến. Thế giới chung quanh đă bỏ rơi đất nước Việt Nam quá xa. Và họ cũng không dừng lại đợi ḿnh. Mỗi chúng ta phải nhọc công lắm th́ hai mươi năm nữa quê hương ḿnh may ra mới kịp bằng người. Không bằng người th́ hẵng nói đến thời hưng trị.      

Tôi đọc “Tổ Quốc Ăn Năn” (TQAN) trong nỗi trăn trở đó. Sáu trăm trang sách không phải là một dung lượng lớn, nhưng cuốn sách này chuyển tải những thách thức, những  khái niệm lớn mà người Việt chúng ta, nhất là thế hệ trẻ, trong cuộc hành tŕnh của dân tộc đi vào tương lai sớm muộn rồi cũng phải đương đầu. TQAN chứa đựng những nhận định không nhân nhượng về đất nước, lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam[iv][iv]. Bịnh càng nặng th́ thuốc càng phải đắng. Căn bịnh trầm kha của đất nước đ̣i hỏi ở mỗi người Việt Nam một niềm tin tuyệt đối vào tương lai của dân tộc, đồng thời phải có một thái độ trầm tỉnh và kiên quyết để xét lại cái thể trạng của dân tộc ḿnh. Những lụn bại và đổ vỡ toàn diện của đất nước không cho phép chúng ta chấp nhận những giải thích hời hợt. Chúng hẳn phải có một nguyên nhân máu huyết hơn. Đến nay phần lớn những người Việt dân chủ tiến bộ đều đồng ư rằng chủ nghĩa cộng sản là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai họa này. Chỉ cần xây dựng lại một thể chế chính trị dân chủ th́ tự nhiên đất nước Việt Nam sẽ bằng người, sẽ ấm no, hạnh phúc. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Tại sao lại có chủ nghĩa cộng sản trên đất nước Việt Nam? Điều ǵ có thể bảo đảm rằng một chủ nghĩa cộng sản kiểu mới nào đó không đặt sự thống trị lên dân tộc Việt Nam trong tương lai? Chúng ta rất may mắn khi nền dân chủ tự do mà chúng ta hiện nay đang đeo đuổi đă là kết quả thực nghiệm thành công của nhân loại trong hơn hai thế kỷ qua. Có được may mắn này là v́ chúng ta đang tụt hậu. Khi phải song hành với lịch sử, điều ǵ có thể bảo đảm là chúng ta sẽ không chọn lầm một con đường như sự lựa chọn từ chối phương Tây hai thế kỷ trước hay chủ nghĩa cộng sản một thế kỷ sau đó? Chúng ta phải làm ǵ để không sai lầm ở những khúc rẽ khác của lịch sử? Sự đóng góp quan trọng của Nguyễn Gia Kiểng là đặt ra những vấn đề gai góc đó trong nhận thức của chúng ta. TQAN là một cố gắng dở dang. Nếu không đồng ư với người viết th́ trách nhiệm của người đọc là phải tự t́m lấy câu trả lời cho chính ḿnh.

Có lẽ tôi cũng giống như phần lớn các bạn, những người được cái diễm phúc đọc một loạt hàng chục bài bàn về cuốn sách này trước khi có được cái dịp may cầm nó trên tay. Kể ra th́ cũng là một mất mát vậy. Cái thú được cười một ḿnh khi bắt gặp một điều thú vị không c̣n nguyên vẹn nữa (mà cuốn sách này có quá nhiều điều thú vị !). Nhưng bù lại th́ ta được dịp đọc nó một cách trầm tĩnh hơn, khách quan hơn. Khỏi phải đọc lại nhiều lần. Có một điều mà tôi vẫn cứ thấy băn khoăn. Cái phần đă gây nên sóng gió nhất của TQAN, như những nhận định được coi là táo bạo về một vài nhân vật lịch sử hay đánh giá của ông về tính ưu việt của văn hóa phương Tây, thật ra chỉ đóng một vai tṛ dẫn chứng hay đối chiếu mà thôi. Tranh luận về tính chính xác của chúng là những cuộc tranh luận trong bao giờ ngă ngũ. V́ thật ra bản chất của những cuộc tranh luận này không phải là các vấn đề thuộc phạm trù của tính sử kiện mà thuộc phạm trù giá trị. Cái h́nh ảnh Nguyễn Gia Kiểng đang “chẻ tượng thành củi nhóm bếp” của Nguyễn Xuân Nghĩa t́m thấy sự đồng cảm ở nhiều người. Tôi chắc ông Nghĩa hẳn có ư sâu sắc hơn với nhận xét đó. Tượng của người ḿnh thường bằng gỗ cả, chớ bằng đá th́ làm sao mà chẻ được. Người ta cảm thấy bị tổn thương khi mà những thần tượng lịch sử, cái nền tảng của những giá trị t́nh cảm dân tộc, ḷng tin và niềm tự hào của họ, bị xét lại. Ḷng tin và niềm tự hào vào dân tộc Việt Nam của thế hệ chúng ta khách quan hơn, và v́ thế, kiên định hơn. Chúng ta yêu đất nước Việt Nam bằng một t́nh yêu không điều kiện. Có hay không có Lê Lợi, Quang Trung th́ không v́ thế mà yêu dân tộc ḿnh nhiều hơn hay ít hơn. Hành trang vào tương lai v́ thế mà cũng nhẹ nhàng hơn, chỉ có t́nh yêu và niềm tin thôi, không kềng càng với anh hùng này anh hùng khác. Lịch sử, và những khiếm khuyết của nó, bởi thế cũng sẽ được mổ xẻ một cách trọn vẹn hơn. Tôi thường hay nghĩ rằng cái khoảng cách giữa các thế hệ là một khoảng cách không thể vượt qua, bởi những giá trị t́nh cảm là không thay đổi được. Nguyễn Gia Kiểng viết TQAN hẳn là cho những bạn hữu, những người cùng thế hệ ông. Ông tâm sự, trách móc, than phiền, và ông cho tôi cái cảm giác rằng ông cô đơn giữa thế hệ của ḿnh. Tôi tin chắc Nguyễn Gia Kiểng sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng thế hệ trẻ có một cái nh́n bao dung và chia sẻ hơn đối với TQAN.

                                                

Ḷng Yêu Nước

Tư tưởng Nguyển Gia Kiểng (đọc là “của Nguyễn Gia Kiểng” chứ không là “Kiengism” ) xoáy quanh khái niệm ḷng yêu nước. Tác giả đào sâu vào trong kư ức tập thể của chúng ta để chứng ming rằng người Việt không yêu nước. Hay nói đúng hơn, người Việt không yêu nước theo khái niệm yêu nước mới cần thiết của ông. Đi t́m một đề tài nhất quán trong một cuốn sách đa dạng như TQAN là một việc liều lĩnh. Tuy nhiên nếu phải chọn một đoạn văn đại diện th́ tôi nhất định phải chọn:

Ḷng yêu nước của người Việt Nam...rất mờ nhạt. Nó được thổi pḥng lên do sự chia rẽ trầm trọng của dân tộc Việt Nam. Nó không phải là một t́nh yêu v́ người ta chỉ nhân danh tổ quốc để giết nhau chứ có bao giờ nhân danh tổ quốc để tha thứ và nhường nhịn nhau đâu. Sự xung đột đă khiến mọi phe phái đều phải đề cao một điều duy nhất mà mọi người có thể chấp nhận, đó là ḷng yêu nước. Nhưng sự xung đột này tự nó cũng là bằng cớ rằng người Việt Nam không yêu nước. Nếu thực sự yêu nước th́ người Việt Nam trước hết phải thương yêu nhau đă, chứ không thể phủ nhận nhau, mạt sát, lên án tiêu diệt nhau một cách dễ dàng như vậy.

 

Mỗi người Việt, nếu không là một sự ngưỡng mộ, th́ là một niềm kiêu hănh về ḷng yêu nước. Ḷng yêu nước được hiểu và chấp nhận trong ư thức của chúng ta là một sự ràng buộc t́nh cảm với nơi chôn giau cắt rốn, với bờ tre, khóm trúc, hoặc nói một cách thi vị hơn là với non sông đất nước. Ḷng yêu nước c̣n được hiểu là t́nh cảm tự ái dân tộc, không chịu luồn cúi dưới ách ngoại bang. Đây là những t́nh cảm cao thượng. Cao thượng và vị kỷ. Ở thời đại lưỡng cực mà trong đó sự phân biệt chánh tà chỉ đơn thuần là đất nước và ngoại xâm, ta và giặc, người Việt và người phương Bắc, những t́nh cảm này kết tinh thành một ư chí cộng đồng mănh liệt để chính nhờ nó mà hôm nay có một quốc gia tồn tại với cái tên Việt Nam. Nhưng trong một thế giới đa cực, ngoại xâm không c̣n chỉ một Minh triều mà là Pháp, là Nhật, là Mỹ, Nga, cộng sản, đế quốc,... và dân tộc không chỉ một ḿnh “vua tôi nhà Lê” mà là Đông Dương Cộng Sản Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Dân Chủ, Bảo Đại, ông Hồ, ông Diệm,...th́ chúng ta hoàn toàn mất phương hướng. Tính vị kỷ của ḷng yêu nước, chấp nhất kỷ chi kiến, đă phân hóa chúng ta đến tê liệt. Chính v́ nó mà hơn một thế kỷ qua bao nhiêu tai ương đă đổ lên đầu dân tộc Việt Nam. Yêu nước là vệ đạo. Yêu nước là yêu chủ nghĩa xă hội. Yêu nước là yêu tự do dân chủ. Ḷng yêu nước được chúng ta hiểu và chấp nhận chưa bao giờ đặt trên nền tảng của t́nh yêu thương người Việt. Bởi thế nên có người phạm những tội tày trời với dân tộc và nhân loại, giết hại bao nhiêu sinh linh vẫn được tha thứ, và thậm chí tôn thờ, v́ họ nói họ làm những việc đó nhân danh ḷng yêu nước. Ḷng yêu nước vừa là một thứ vũ khí để giết chóc vừa là thước đo cho những giá trị khác. Chúng ta chấp nhận và không bao giờ tra vấn giá trị nào là thước đo của ḷng yêu nước? Làm thế nào biết được hành động của một cá nhân, một đảng phái chính trị thật sự xuất phát từ ḷng yêu nước? Theo Nguyễn Gia Kiểng, cái thước đo đó chính là t́nh thương đối với người Việt Nam, nếu không yêu thương nhau th́ không yêu nước. Đơn giản chỉ có thế. Không tôn trọng nhau là không yêu nước. Sỉ vả nhau là không yêu nước. Ruồng bỏ nhau là không yêu nước. Hăm dọa nhau là không yêu nước. Bỏ tù nhau là không yêu nước. Phủ nhận quyền được nói, được thờ phượng, được sống của nhau là không yêu nước. Dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn với nhau là không yêu nước. Giết một người Việt, dù là kẻ thù chính trị, th́ không những không yêu nước mà c̣n là đồ phản. Cái giá trị cần được xét lại một cách triệt để chính là ḷng yêu nước của chúng ta. Nguồn sinh khí của khái niệm yêu nước cũ giúp chúng ta duy tŕ nền độc lập trong hơn hai ngàn năm qua nay đă khánh kiệt. Trong một thế giới đa cực hôm nay, để có thể tiếp tục cuộc hành tŕnh với lịch sử, chúng ta cần phải kiến tạo cho ḿnh một khái niệm yêu nước mới: người Việt yêu thương, tôn trọng nhau, chia sẻ một tương lai. Thiếu vắng ḷng yêu nước này, hành tŕnh của dân tộc Việt Nam sẽ lắm chông gai. Và ngay cả chúng ta có dân chủ có tự do th́ cũng chưa chắc có tương lai: chúng ta vẫn c̣n cái nguy cơ lạc hướng ở khúc rẽ đầu tiên.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến tranh, mà chúng ta được dạy là chiến tranh để giành độc lập. Bằng một phép cộng đơn giản, tác giả cho chúng ta thấy rằng thật ra phần lớn những cuộc chiến tranh đó là những cuộc chém giết nhau giữa người Việt hoặc giữa người Việt với láng giềng phương Nam mà thôi. Tác giả nhận định rằng người Việt tôn thờ bạo lực, và v́ thế không thể nào thoát khỏi chiến tranh. Tôi không tin như vậy. Sự tàn bạo của vua Quang Trung, Đinh Bộ Lĩnh hay của các thể chế chính trị đương đại có chứng minh điều ǵ th́ đó chính là sự thiếu vắng ư thức văn hóa chính trị của người Việt chứ không thể cho rằng họ chuộng bạo lực. Chính trong cái khoảng trống văn hóa này, bạo lực là công cụ thích hợp để thu phục nhân lực cho những mục tiêu chính trị nhân danh ḷng yêu nước. Thật ra con người Việt Nam hiền ḥa và yêu chuộng nhân nghĩa. (Tôi nói điều này không phải để mơn trớn ḷng tự ái. Nó là một sự thật. Có dịp chúng ta sẽ đi sâu hơn.) Đây chính là nền tảng để xây đắp ḷng yêu nước mới. 

T́nh yêu thương thường là mối quan tâm cuối cùng của chính trị. Nhưng không ai có thể hành động vượt ra ngoài khuôn khổ của văn hóa chính trị cộng đồng mà không bị cô lập và loại trừ. Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của ông đă không thể giết người một cách bừa băi như việc họ tiến hành cuộc thảm sát những người Việt quốc gia hồi sau cách mạng 1945 hay việc tiến hành cuộc nội chiến tàn sát nhau như họ đă làm trong cuộc đấu tranh giành độc lập vừa qua nếu văn hóa chính trị của người Việt không cho phép điều đó. Chúng ta coi việc giết người trong sinh hoạt chính trị không phải là hành động giết người. Và dân tộc Việt Nam đă phải trả giá. (Có người lập luận rằng những cuộc tàn sát như vậy là cần thiết cho một cuộc chiến tranh có chính nghĩa như cuộc chiến tranh giành độc lập. Quan điểm của tôi là tranh luận về bản chất của một cuộc chiến tranh là chính nghĩa hay phi nghĩa một cuộc tranh luận vô bổ. Một cuộc tranh luận khác có ư nghĩa hơn: chiến tranh có cần thiết hay không. Tôi cho rằng nó không cần thiết, kể cả chiến tranh giành độc lập. Hăy cho tôi được nói hết! Chúng ta vẫn có thể giành được độc lập mà không cần phải chiến tranh. Bốn triệu người thân của chúng ta không cần phải chết. Những dân tộc nhỏ và khôn ngoan là những dân tộc, dựa trên đồng thuận và đa nguyên, luôn t́m mọi cách tránh né chiến tranh. Nói tóm lại, tàn sát nhau là một điều hoàn toàn không thể biện minh được. Đây là một đề tài văn hóa chính trị khác mà TQAN đă dành nhiều quan tâm. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong một dịp khác).

Ḷng yêu nước mới sẽ là một thái độ nhân nhượng, khiêm tốn. Ḷng yêu nước mới sẽ là gốc rễ cho những liên hệ chính trị trong tương lai. Sự tôn trọng lẫn nhau buộc chúng ta phải đặt tất cả những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia trên nền tảng đồng thuận và đa nguyên. T́nh thương sẽ loạt trừ sức mạnh bạo lực ra khỏi chính trường và nhường chỗ cho sự thỏa hiệp, ḷng kiên nhẫn và niềm tin vào con người. Tôi không ảo tưởng. Đê sông Hồng không đắp trong một ngày. Một giá trị văn hóa căn gốc như ḷng yêu nước cũng không thể xóa bỏ hay h́nh thành trong một ngày. Nguyễn Gia Kiểng đă đặt viên gạch đầu tiên. Đây là một khái niệm mới cần được xây dựng và bồi dưỡng.             

Khổng Giáo

Hủy diệt Khổng Giáo để thiết lập một trật tự văn hóa mới làm nền tảng cho xă hội phát triển không phải là sáng kiến của Nguyễn Gia Kiểng. Những người cộng sản đă làm việc này, và làm một cách thấu đáo, từ hơn nửa thế kỷ trước bằng các cuộc cách mạng văn hóa vô sản đẫm máu của họ. Họ có một câu nói quen thuộc và tàn bạo: muốn xây dựng chủ nghĩa xă hội cần phải có những con người xă hội chủ nghĩa. Muốn có những con người xă hội chủ nghĩa th́ trước hết phải loại trừ những con người không xă hội chủ nghĩa. Đây chính là lư do cho những cuộc giết chóc ghê rợn trong các xă hội cộng sản. Những từ ngữ như “Stalin”, “KGB”, “Polpot”, “Cách mạng văn hóa”, “Mao”, “cải cách ruộng đất”, “đi cải tạo”,...đến nay vẫn c̣n làm cho người ta giật ḿnh. Ở Việt Nam và Trung Quốc, mục tiêu không xă hội chủ nghĩa đầu tiên, không phải là giai cấp tư sản (v́ họ không có giai cấp này), mà chính là Khổng Giáo. Lư luận về những ảnh hưởng tai hại của Khổng Giáo đối với tâm lư và văn hóa trong xă hội Trung Quốc và Việt Nam đă có từ lâu. Nhưng có lẽ những nhà “cách mạng văn hóa” cộng sản phải xấu hổ với TQAN: Nguyễn Gia Kiểng làm công việc này một cách kinh điển. Ông kết hợp sự quan sát nhạy bén của ḿnh về đời sống tâm lư chính trị của người Việt với Tứ thư, Ngũ kinh trong một phong cách rất độc đáo. Hăy thử đọc một vài đoạn:

Trí thức Việt Nam ngày nay là hậu thân của giai cấp sĩ phu ngày trước...Kẻ sĩ vẫn c̣n là mẫu mực của rất nhiều trí thức Việt Nam...Nhưng kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một mẫu người tồi hèn, vong thân?...Sĩ là một nghề, nghề đi học và nghề làm quan. Trước sau là nghề qú...

Văn hóa Khổng Mạnh là văn hóa phủ nhận kiến thức...

Văn hóa Khổng Giáo c̣n để lại cho chúng ta một di sản khác là sự vô lễ quá đáng...

Nhân trị chỉ giản dị là độc tài cá nhân tuyệt đối...

Chữ “lễ” của Khổng Giáo cũng là một sự hiểu lầm...nó không có nghĩa là sự đối xử lịch sự, bặt thiệp trong xă hội đối với mọi người. Về lễ, Khổng tử nói một câu kinh khủng: “lễ không kể đến bọn thứ dân”...

 

Hay thế mà tôi vẫn thấy không thuyết phục mấy. Không phải là tôi không đồng ư với tác giả mà lư do chính là tôi không thấy nó phục vụ một mục đích nào thiết thực cả. Văn hóa có tính thừa hưởng và tích lũy. Muốn hay không th́ Khổng Giáo đă là một phần, nếu không nói là một phần lớn của hồn tính dân tộc Việt Nam. Từ chối hay thay đổi nó là mâu thuẫn với chính ḿnh. Chính tác giả cũng đă nh́n nhận là việc thay đổi văn hóa là một cố gắng lớn mà cho đến nay chưa một dân tộc nào làm được. Điều đó cho thấy rằng việc nhận diện những thui chột tâm lư của ḿnh là để biết ḿnh đang là ai mà thôi. Cây mọc trong rừng, nếu không có đủ khoảng trống và ánh nắng, sẽ không vươn lên thẳng đứng. Nếu con người không có tự do th́ nhân cách của họ sẽ bị tha hóa. Những khiếm khuyết trong tâm lư chính trị của người Việt là hậu quả của t́nh trạng vong thân trong một xă hội thiếu hẳn “khoảng trống và ánh sáng” hơn là v́ triết lư Khổng Giáo. Tôi tin vào nhân cách con người. Tôi tin rằng trong một xă hội dân chủ tự do xây dựng trên nền tảng của những giá trị nhân bản và đạo đức, nhân cách con người sẽ có khả năng tự hoàn thiện và loại trừ những ung nhọt tâm lư như vậy, ngay cả khi có sự hiện diện của Khổng Giáo. Quan điểm của TQAN là phủ nhận Khổng Giáo một cách triệt để. Tác giả cho rằng thà không có ǵ c̣n hơn có thuốc độc. Không có ǵ th́ bạn biến mất khỏi thế giới này ngay lập tức. Tôi thà rằng có thuốc độc, ít nhất cũng có thể thoi thóp để có cơ may được cứu sống trở lại. Chế độ cộng sản đă hủy diệt tận căn gốc tất cả những giềng mối đạo đức của dân tộc Việt Nam và thay vào đó một h́nh nộm trống rỗng, lố bịch của cái gọi là “đạo đức cộng sản”. Trạng thái “không có ǵ” đang tàn phá thể trạng của đất nước Việt Nam. Lịch sử cũng đă cho chúng ta một bài học quí giá: những cố gắng chính trị đ̣i loại trừ những giá trị truyền thống, tốt và xấu, đều dẫn đến cực đoan. Tôi nói lư luận của TQAN về Khổng Giáo không phục vụ một mục đích nào thiết thực là có ư như vậy.

TQAN cũng quá lạc quan với sự đóng góp của kinh tế thị trường vào việc kiến tạo nền tảng đạo đức xă hội:

...Thật ra chúng ta đ̣i hỏi ǵ ở con người? Chúng ta mong muốn những con người có khả năng, chăm chỉ, lương thiện và nhă nhặn. Tất cả những đức tính đó một sinh hoạt kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhất là hoạt động buôn bán, sẽ đem lại...có khả năng, lương thiện, chăm chỉ th́ lên chức, lên lương. Buôn bán mà gian trá, thô lỗ th́ mất khách và phá sản. Kinh tế thị trường tự do cũng có cái logic và cái đạo đức của nó. Phần lớn những thói hư tật xấu đều có thể khắc phục được trong ṿng một thế hệ nếu chúng ta mau chóng có được một nhà nước pháp trị đúng đắn, tin tưởng vào kinh tế thị trường và khai thác triệt để moi ưu điểm của nó.

 

Hăy khoan nói đến tính khả thi của “sinh hoạt kinh tế thị trường đúng nghĩa” và “mau chóng có được một nhà nước pháp trị đúng đắn” trong giai đoạn quá độ của nền dân chủ Việt Nam. Đúng là kinh tế thị trường sẽ có khả năng kiến tạo “chăm chỉ, lương thiện và nhă nhặn”. Nhưng nó không có khả năng kiến tạo những đức tín cần thiết khác, ḷng nhân ái chẳng hạn. Thật ra đạo đức là mối bận tâm cuối cùng của kinh tế thị trường. Nhiều người cho rằng chỉ cần có pháp luật là giềng mối của tất cả các mối quan hệ, c̣n các vấn đề đạo đức nên chỉ được coi là những giá trị có tính cách cá nhân. Đây hoặc là một ngộ nhận, hoặc là một thái độ quá đề cao kinh tế thị trường tự do và cố t́nh phủ nhận vai tṛ của những lănh vực khác trong xă hội dân sự như tôn giáo, những tổ chức không vụ lợi, gia đ́nh,...Trường học ở Mỹ không có môn học đạo đức. Nhưng nếu người Mỹ không c̣n đi nhà thờ mỗi chủ nhật th́ xă hội của họ đă tan ră từ lâu. Trần Trọng Kim, một chính khách và là một học giả uyên thâm, từ hồi đầu thế kỷ trước đă cảnh báo chúng ta điều này. Ông nói:

...Cũng như bên Thái Tây bây giờ ai chẳng khuynh hướng về khoa học, thế mà họ vẫn giữ cái nền tông giáo Cơ đốc để làm gốc. Vậy ta nay phải theo khoa học, th́ cứ theo, nhưng ta cứ giữ lấy cái nền Khổng Giáo, cốt lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín mà tu thân và xử thế. Đời bây giờ xă hội nào cũng cần có tâm học và khoa học, để hai bên tương đối và tương điều ḥa với nhau. Bên tâm học th́ chủ ở sự tiến hóa về đường đạo lư, bên khoa học th́ chủ ở sự tiến hóa về đường trí tuệ và đường vật chất.[v][v]    

 

Mấy chữ “th́ cứ theo” nghe có vẻ miễn cưỡng, nó phần nào phản ảnh tư chất chính trị của ông. Tôi cũng không có hứng thú ǵ mấy với mấy chữ Nho “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” . Nhưng phải nh́n nhận là ông có lư. Đọc TQAN nói về Khổng Giáo làm tôi liên tưởng đến những ǵ những người cộng sản đă từng nói về Thiên Chúa Giáo. (C̣n nhớ cái chữ thuốc độc đó không?). Nếu Khổng Giáo hoàn toàn thui chột như Nguyễn Gia Kiểng nhận định th́ xă hội phương Đông đă phải tự hủy diệt từ lâu. Bản thân sự tồn tại của Khổng Giáo trong mấy ngàn năm qua chứng tỏ nó hẳn có những điều tốt đẹp khác! Đó là những điều mà chúng ta tuyệt đối phải gạn lọc và ǵn giữ. Chúng ta bao giờ cũng cần phải có một nền tảng “tâm học”, dù là Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Khổng Giáo, hoặc vừa là Thiên Chúa Giáo vừa là Phật Giáo vừa là Khổng Giáo vừa là Cao Đài vừa là Ḥa Hảo, hay bất cứ một giáo lư nào.

Lúc này nói đến việc cần phải ǵn giữ những giá trị tốt đẹp của Khổng Giáo th́ hơn bao giờ hết phải cảnh tỉnh lên án những âm mưu lợi dụng Khổng Giáo dưới cái chiêu bài văn hóa truyền thống cho mưu đồ kéo dài nền độc tài chính trị của những người cộng sản.    

Trừ phi triết học cổ Trung Quốc là môn học chính của bạn, thế hệ của chúng ta coi như là không hề biết đến Khổng Giáo. Cái mớ kiến thức Khổng Giáo của chúng ta có lẽ cũng chỉ đủ để tả ông bố của một người bạn gái xinh xắn nào đó là “nho giáo” quá mà thôi (nho không viết hoa!). Chúng ta cũng từng mừng thầm rằng ít nhất th́ thế hệ ḿnh không phải đối diện với cái vấn đề nhức óc này. Chúng ta đă lầm. Cụ Khổng nay lại hiện về lù lù ra đó. Chủ nghĩa cộng sản ở châu Á là một chuyển tiếp từ Khổng Giáo và phong kiến đến dân chủ tự do. Chủ nghĩa cộng sản ra đời trong cái khoảng trống văn hóa chính trị khi Khổng Giáo đă tàn lụi mà các tư tưởng dân chủ tự do chưa bén rễ. Ngày nay khi mà chủ nghĩa cộng sản đang bế tắc, th́ Khổng Giáo lại trở lại để thay thế vào chính cái khoảng trống tư tưởng đó. Nỗi bất hạnh của dân tộc Việt Nam chính là sự giam hăm trong cái ṿng luẫn quẫn Nho–Cộng như vậy. Sự trở lại lần này của Khổng Giáo có một sự hỗ trợ đặc biệt của một lớp trí thức trẻ và lương thiện. V́ lương thiện, họ không có chổ đứng trong một xă hội mang bản chất tội ác như xă hội cộng sản[vi][vi]. Họ t́m thấy ở Khổng Giáo sự che chở cho trái tim lương thiện của họ đối diện với sự tàn phá một cách tàn bạo tâm hồn con người trong cái xă hội nửa cộng sản và nửa kia là những thành tố xấu xa nhất của tư bản, bán khai, và phong kiến. Nhưng chính người cộng sản cần Khổng Giáo hơn. Khi mà sự lố bịch của lư luận “cách mạng vô sản và đấu tranh giai cấp” của họ đă quá lộ liễu, những người cộng sản đang cố gắng moi móc ở Khổng Giáo những lư luận chính trị “cách mạng” mới ḥng kéo dài nền độc tài chính trị của họ[vii][vii]. Đây là một hiểm họa mà tôi cho rằng vẫn chưa được những người đấu tranh cho dân chủ chúng ta quan tâm đúng mức. Nói đến Khổng Giáo mà không nói đến điều này là một thiếu sót nguy hiểm[viii][viii]. Phủ nhận triệt để bao giờ cũng là một việc dễ dàng, ít nhất là trên phương diện lư luận.  Nhận định rằng cộng sản là Khổng Giáo kiểu mới là một bước tiến trong nhận thức của lư luận chính trị dân chủ. Nhưng v́ thế mà hoàn toàn từ chối Khổng Giáo lại là một bước lùi, nếu không nói là một sự biếng nhác của lư luận.  

Tiếng Việt

Cần phải nói thêm, không yêu Tiếng Việt là không yêu nước. TQAN đă dành cho Tiếng Việt một sự trân trọng đáng quí. Tác giả c̣n đem đến cho người đọc hàng loạt những câu chuyện thú vị về sự vụng về của người Việt đối với ngôn ngữ của ḿnh. Đọc những mẩu chuyện đó, mượn câu nói của Từ Thức, ít người Việt nào không thấy nhột[ix][ix]. Sự yếu kém tiếng Việt của trí thức Việt Nam th́ TQAN đă nói nhiều, ở đây tôi xin bàn về một hệ quả trực tiếp của sự yếu kém đó: sự nghèo nàn của chính Tiếng Việt.

Đi t́m sự đồng thuận giữa những thái cực chính trị hiện nay là một việc t́m kim đáy bể. Tuy nhiên có một vấn đề vượt lên tất cả những bất đồng chính kiến khi đề cập đến tương lai của dân tộc ta, đó là Tiếng Việt. Chúng ta có một dân tộc Việt Nam hôm nay là nhờ vào Tiếng Việt. Con cháu của chúng ta có một dân tộc Việt Nam mai sau cũng sẽ nhờ vào Tiếng Việt. Số phận của dân tộc Việt Nam không thể tách rời Tiếng Việt. Tiếng Việt c̣n th́ nước Việt c̣n. Tiếng Việt có phát triển th́ nước Việt mới phát triển. Sự tŕ trệ của đất nước Việt nam hôm nay không lẽ không phải là hệ lụy của sự nghèo nàn của Tiếng Việt chăng ?

Mà Tiếng Việt của chúng ta nghèo nàn thật. Thế kỷ hai mươi chứng kiến một sự phát triển vũ băo của nền văn minh nhân loại trên tất cả mọi lănh vực, từ khoa học, kỹ thuật đến văn hóa, nghệ thuật, chính trị, triết học, tôn giáo, v.v... Thế nhưng Tiếng Việt của chúng ta th́ giậm chân tại chổ từ một trăm năm nay. Chúng ta cứ đủng đỉnh ung dung là Tiếng Việt của ta phong phú lắm. Một trăm chữ tiếng Anh mới cưu mang nổi một câu Kiều. Điều đó đúng. Nhưng nó chỉ nói lên tính độc đáo của Tiếng Việt, chứ không chứng minh được là ngôn ngữ của ta phong phú. Những trí thức Việt Nam đă đến học tập tại các viện đại học ở nước ngoài  không thể không xót xa khi đến thăm những thư viện quốc gia hay những nhà sách lớn của chúng ta. Chúng chứng minh một cách tàn nhẫn cho sự nghèo nàn của Tiếng Việt. Tiếng Việt hiện nay chuyên chở được bao nhiêu kiến thức của nhân loại ? Trên thực tế, câu trả lời là “quá ít ỏi”, mà lư do không ngoài sự giới hạn của chính nó. Điều này được xác nhận bởi nhiều trí thức Việt Nam. Phải dịch hay viết một cuốn sách về ngành học của ḿnh bằng Tiếng Việt là một việc cực kỳ khó khăn. Sự diễn đạt ư niệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt là một thử thách[x][x].  Những thử thách này không chỉ có trong những lănh vực “nặng” về ngôn ngữ như khoa học xă hội và nhân văn, mà ngay cả trong những ngành thuần túy kỹ thuật như tin học, viễn thông. Một hệ quả hiển nhiên là, nếu ngôn ngữ của một lănh vực giới hạn th́ lănh vực đó dù đầu tư đến đâu cũng không phát triển được. Xin có hai ví dụ để minh họa cho luận điểm này: tin học và dân chủ.

Sự phát triển vũ băo của cuộc cách mạng công nghệ tin học, và những nguồn lợi kinh tế khổng lồ mà nó đem lại, trong thập niên vừa qua gây nên một sự quan tâm đặc biệt trong những người lănh đạo quốc gia cũng như giới học sinh, sinh viên của chúng ta. Một nhận định đúng đắn được nêu ra cho đây là cơ hội lớn giúp chúng ta ḥa ḿnh vào trào lưu toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới. Đây cũng là điều đúng đắn duy nhất! Nghị định này đến nghị định khác từ phía chính phủ “ban ra”, khuyến khích các cơ quan nhà nước đưa ứng dụng của điện toán vào trong công việc quản lư, ưu tiên các nhà đầu tư vào công nghệ thông tin,...Họ c̣n đi xa hơn, trong hoàn cảnh thắt lưng buộc bụng này, tung ra một khoản tiền 70 triệu đô la Mỹ cho các công ty tham vấn của Ấn độ để đào tạo “đủ nhân lực lao động cho xuất khẩu phần mềm”[xi][xi]. (Bao nhiêu trong số 70 triệu đô la này thực sự phục vụ cho mục đích đào tạo là một đề tài khác cho một dịp khác). Về phía các trí thức trẻ, ḷng nhiệt t́nh cũng không kém. Cái mốt thời thượng nhất hiện nay trong giới sinh viên là tạo cho ḿnh một website trên liên mạng. (Có người cho rằng đó là phản ứng vươn tới tự do ngôn luận. Không sai, nhưng cũng không kém phần khiên cưỡng. Thật ra cái thú làm tin học hấp dẫn họ hơn). Tin học Việt Nam vẫn c̣n trong giai đoạn phôi thai. Triển  vọng, nếu đi đúng hướng, sẽ rất lớn trong tương lai. Nhưng lúc này, mặc dầu có những cố gắng và quyết tâm lớn, ngành công nghệ tin học vẫn giậm chân tại chổ trong vài năm qua. Người ta viện dẫn nhiều lư do. Nhưng có một lư do quan trọng nhiều người biết nhưng không mấy ai quan tâm: Tiếng Việt chưa đủ trưởng thành để chuyển tải kiến thức tin học. Phần lớn sách vở về tin học bằng tiếng Việt chỉ chú trọng vào yếu tố ứng dụng (Microsoft Office, CAD, Web,...) mà thiếu hẳn những kiến thức lư thuyết nền tảng. Tin học, khác hẳn với những công nghệ khác như luyện thép hay may mặc, là một công nghệ của tư duy. Lao động tin học là lao động tư duy. Kiến thức lư thuyết căn bản và tự do tư tưởng là vốn liếng quan trọng nhất của một người lao động tin học. (Tự do tư tưởng là yếu tố chỉ có thể có được ở dân chủ. Nói một cách khác, công nghệ tin học không thể phát triển dưới chế độ độc tài chính trị. Đó là một đề tài khác cho một dịp khác). Trở ngại lớn là những kiến thức này thay đổi không ngừng. Một người lao động tin học cần phải luôn luôn cập nhất kiến thức của ḿnh nếu không muốn bị đào thải. Và lúc này anh ta phải làm việc đó không phải bằng tiếng mẹ đẻ. Tên thuốc có thể không cần dịch sang tiếng Việt. Nhưng nếu kiến thức tin học không được chuyển ngữ sang tiếng Việt th́ là một trở ngại lớn cho việc phát triển  công nghệ tin học. Hay nói một cách khác, chừng nào Tiếng Việt c̣n chưa trưởng thành đủ để chuyển tải kiến thức tin học th́ chừng đó tin học Việt Nam vẫn c̣n phải chậm hơn người ta vài bước, cũng như nền dân chủ vậy. 

                                               Công cuộc vận động cho dân chủ tự do đến nay đă hơn hai mươi năm với nhiều hy sinh, vâng, cả máu và nước mắt. Trong đoạn đường lịch sử này, dân chủ đă là lựa chọn tất yếu cho xă hội phát triển. Không có con đường khác nếu không muốn trả một giá đắt hơn. Khối cộng sản thế giới đă sụp đổ, đem theo cái ảo vọng của việc khám phá ra con đường khác đó. Cộng sản Việt Nam chỉ c̣n là một cái vỏ trống của ngụy biện. Tại sao chúng ta vẫn chưa có dân chủ? Nguyễn Gia Kiểng cho rằng lư do chính yếu nằm trong yếu tố văn hóa thui chột của Khổng giáo trong chúng ta. Điếu đó xác đáng, nhưng lại chỉ là điều kiện cần. Dân chủ trước hết là một phương tiện, phương tiện hữu hiệu nhất, để đi đến tự do, công bằng, và bác ái. Dân chủ là kết quả của thực nghiệm, và do đó là một khám phá của trí tuệ. Chúng ta đang nói đến kiến thức chứ không phải tâm lư. Kiến thức về dân chủ chính là điều kiện đủ.

Có một điều tôi xin nói ngay để tránh những ngộ nhận không cần thiết khi đề cập đến kiến thức dân chủ. Những người cộng sản, và ngay cả một số những người đang đấu tranh cho dân chủ, cho rằng tŕnh độ dân trí của người Việt Nam chưa thích hợp cho việc xây dựng chính trị dân chủ. Do đó, chúng ta, để tránh hỗn loạn, cần “ổn định để phát triển kinh tế” trước cho đến khi người dân cơm no áo ấm, có kiến thức dân chủ rồi mới nói đến dân chủ. Cho rằng một người nào đó chưa có đủ tŕnh độ dân trí để xứng đáng với dân chủ th́ không khác ǵ cho rằng họ không xứng đáng để làm chủ cuộc đời của chính họ. Tính ngụy biện của luận điểm này đă bị phản luận một cách thuyết phục và hùng hồn trong TQAN. Tôi thấy không cần phải nói thêm. Chúng ta cần dân chủ, và cần nó ngay bây giờ. 

Xin trở lại vấn đề kiến thức dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản đă thống trị trên đất nước Việt Nam một thời gian dài. Trên thực tế một lớp trí thức trẻ, bao gồm thế hệ của chúng ta, đă trưởng thành với một nền giáo dục mà trong đó dân chủ, nhân quyền, pháp trị là những khái niệm vừa xa lạ vừa ngoại lai. Chúng ta chứng kiến sự mục ruỗng của chủ nghĩa cộng sản với một thái độ bất động. Bất động, v́ chúng ta vẫn chưa tin vào tính tất yếu của dân chủ tự do. Chưa tin v́ chúng ta chưa có đầy đủ kiến thức về dân chủ. Chưa có kiến thức dân chủ v́ Tiếng Việt của chúng ta vẫn chưa diễn đạt khái niệm này một cách khoáng đạt, đầy đủ, và thích hợp[xii][xii]. Có bao nhiêu trang sách bằng tiếng Việt bàn đến dân chủ một cách nghiêm túc, kiên nhẫn, và lương thiện[xiii][xiii]? Điều này không những đă quan trọng trong quá tŕnh vận động dân chủ hiện nay mà c̣n là điều tối cần thiết khi mà nền dân chủ bắt đầu thành h́nh. Khả năng chuyển tải kiến thức dân chủ của Tiếng Việt có tính quyết định trong việc thành công hay thất bại của công cuộc xây dựng dân chủ. Dân chủ, như đă nói ở trên, là kết quả của thực nghiệm chính trị. Nhưng áp dụng những nguyên tắc dân chủ vào điều kiện của mỗi quốc gia lại là sự bắt đầu của một thực nghiệm khác đ̣i hỏi ngôn ngữ phải trưởng thành để đáp ứng một tŕnh độ lư luận nhất định. Người ta thường đổ lỗi cho tŕnh độ dân trí về t́nh trạng hỗn loạn tại các quốc gia có một nền dân chủ phôi thai. Nhưng nếu quan sát kỹ th́ chúng ta có thể thấy rằng cái gọi là sự hỗn loạn này thật ra chỉ là t́nh trạng đục nước béo c̣ của một số tổ chức chính trị thiếu lương thiện, nhất là những tổ chức hậu thân của đảng cộng sản, trong một bối cảnh lúng túng của lư luận chính trị dân chủ. Theo Nguyễn Gia Kiểng, đồng thuận về ngôn ngữ là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển lư luận chính trị. Tôi tin chắc ông nói điều này xuất phát từ kinh nghiệm.                          

Trách nhiệm phát triển Tiếng Việt thuộc về ai nếu không phải là của trí thức Việt Nam. Đổ trách nhiệm cho người khác là một việc quá thuận tiện và dễ dăi. Có một điều không c̣n ngạc nhiên đối với chúng ta nữa là trí thức Việt Nam không có thói quen làm sách. Chuyện viết sách, dịch sách vẫn là chuyện thuộc về quyền hạn của một số nhỏ xa lạ. Nguyễn Gia Kiểng rất đúng khi cho rằng chúng ta vô lễ với Tiếng Việt. Ít ra th́ chúng ta không dành cho Tiếng Việt một sự trân trọng xứng đáng. Tôi nhớ đến một câu chuyện cũ, xin góp thêm vào trong những giai thoại của TQAN. Một anh bạn của thầy học tôi đi du học bên Nga về đem theo một cuốn sách toán mà anh ta nói là rất hay. Nhiều người ṭ ṃ hỏi, sao hay thế mà anh không dịch ra tiếng Việt cho nhiều người cùng đọc? Anh ta hững hờ đáp: tiếng Việt ḿnh không đủ để dịch. Có thể hiểu là vốn liếng tiếng Việt của anh ta nghèo nàn. Cũng có thể hiểu là Tiếng Việt không đủ để diễn đạt nhưng khái niệm trừu tượng của toán học hiện đại. Nhưng không thể chối căi là sự cố gắng để hoàn thiện vốn liếng ngôn ngữ mẹ đẻ của ḿnh hoàn toàn thiếu vắng trong ư thức của anh ta. Anh ta không cô đơn. Trong đầu của phần lớn người Việt trí thức ai cũng có cái lỗ hổng xấu xí đó.

Cứu nước không phải bao giờ cũng là câu chuyện của hy sinh, của ḷng dũng cảm, của gươm giáo, của tù tội, của xương máu. Hàng động chính yếu của việc cứu nước là mỗi người làm một việc nhỏ tùy theo sức ḿnh, để rồi những công việc nhỏ bé đó hợp thành một sức mạnh tổng thể xoay đổi vận mệnh của quốc gia. Chúng ta có khoảng nửa triệu trí thức, cả trong lẫn ngoài nước. Nếu mỗi người chỉ cần dịch hay viết một chương sách, th́ Tiếng Việt sẽ có năm mươi ngàn cuốn sách, đủ để chuyên chở một phần kiến thức quan trọng của nền văn minh nhân loại. Chưa làm được điều đó th́ hăy khoan nói đến chuyện bằng người.      

Trong tất cả những vấn đề liên quan đến tương lai của đất nước Việt Nam, cùng với ḷng yêu nước, Tiếng Việt là một trong những vấn đề bức xúc nhất. Việc xây dựng một xă hội dân chủ và tiên tiến phải được kết hợp với việc phát triển Tiếng Việt để nó có khả năng chuyển tải những khái niệm này. Việc phát triển Tiếng Việt đi trước. Biến Tiếng Việt thành một ngôn ngữ cho mọi lănh vực là một cố gắng để tự hoàn thiện chính ḿnh[xiv][xiv]. Cố gắng đó phải được bắt đầu bởi mỗi người Việt chúng ta ngay lúc này. 

Đoạn đường trước mặt

Tôi có cảm giác rằng TQAN bị ám ảnh quá lớn với sự “không có đóng góp ǵ” của dân tộc Việt Nam cho nền văn minh nhân loại. Chúng ta không có đền đài kiến trúc ǵ đáng kể. Văn chương bác học, th́ ngoài tính sắc xảo của ngôn ngữ, phần c̣n lại không có ǵ đáng để so sánh. Triết học, chính trị chỉ là những sao chép đau ḷng. Cái quốc sản duy nhất có lẽ chỉ là khối thi ca dân gian và truyền thuyết. Nhưng số tài sản này cũng chỉ đủ để nhận dạng và nuôi sống chính ḿnh thôi chứ không thể nói là đóng góp ǵ. Thường khi ḿnh thừa hưởng nhiều mà không trả lại bao nhiêu th́ sự áy náy là điều không tránh khỏi. Nó chứng tỏ ḿnh lương thiện. Nhưng không cần phải khổ tâm như thế.

                                               Tôi cho rằng sự đóng góp lớn nhất của một người cho cuộc đời là sống một cuộc sống b́nh thường, nhân ái, và lương thiện. Nếu anh không là gánh nặng cho những người xung quanh, th́ anh đă thành công một nửa. Một nửa kia là t́nh yêu thương, sự chia sẻ và ḷng khiêm tốn. Tất cả những đóng góp khác, nếu có, như một công tŕnh khoa học, một tuyệt tác nghệ thuật, một cơ sở doanh nghiệp,... chỉ là kết quả của ḷng khiêm tốn và tài năng thiên phú mà thôi. Đối với đời sống của một dân tộc cũng vậy. Nếu dân tộc đó không là gánh nặng cho những dân tộc khác, dù là gánh nặng kinh tế như viện trợ, vay mượn hay gánh nặng lương tâm như đàn áp nhau, giết chóc nhau, nếu dân tộc đó đồng hành với những dân tộc khác, nói chung nếu dân tộc đó có một cuộc sống b́nh thường, th́ đă là một đóng góp lớn cho nền văn minh rồi.  

Nhưng dân tộc Việt Nam đang có một cuộc sống không b́nh thường, và đang là gánh nặng của thế giới.

Cuộc hành tŕnh của nhân loại vẫn là cố gắng vươn tới tự do, b́nh đẳng, và bác ái. Đó là một cuộc hành tŕnh của những thử nghiệm đầy xương máu. Những dân tộc khôn ngoan nhất là những dân tộc đi đến đích với một giá rẻ nhất. Đoạn đường trước mặt là dân chủ tự do mà nhân loại phải trả bằng máu và nước mắt, trong đó có máu và nước mắt của dân tộc Việt Nam, trong hai thế kỷ qua mới t́m thấy. Những con đường khác hoặc dài hơn, hoặc phải trả giá cao hơn, hoặc vừa dài hơn vừa phải trả giá cao hơn. Chủ nghĩa cộng sản là một cuộc thử nghiệm lớn và tốn kém, một cuộc thử nghiệm thất bại. Sinh lực của dân tộc Việt Nam đă cạn kiệt trong cuộc thử nghiệm đó. Tiếp tục cuộc thử nghiệm và từ chối con đường dân chủ tự do là không thiện chí hoặc không lương thiện, hoặc vừa không thiện chí vừa không lương thiện, nói chung là một tội ác.

Viết về những đề tài của TQAN th́ không thể có kết thúc. Tôi mượn một giai thoại trong TQAN để chào các bạn vậy:

...Tauriac quả thật hết ḷng với Việt Nam, ông làm tất cả những ǵ có thể làm cho Việt Nam và h́nh như không bao giờ biết chán nản là ǵ. [Trong một bữa cơm tối với Tauriac và Nguyễn Mạnh Hùng], có lúc ông (Tauriac) buột miệng than: “Chế độ cộng sản Việt Nam chẳng mạnh ǵ, vấn đề là người Việt Nam không có ư chí đấu tranh ǵ cả, người ta có cảm tưởng đó là một đàn cừu”...Th́ ra ông cũng thất vọng. Cả Nguyễn Mạnh Hùng và tôi đều ngượng, nhưng đó là một sự thực mà chúng tôi không thể phản đối. Ư chí tranh đấu của chúng ta c̣n kém cả các dân tộc châu Phi...Tôi chỉ biết giải thích cho Tauriac rằng người Việt không hèn nhát, vấn đề là họ đă quá thất vọng với đất nước Việt Nam và đă mất đi ḷng yêu nước...

 Thiết tưởng khi người ta cho ḿnh hèn đó lại là một dằn vặt khác.   

Trần Trung Việt
Hè 2001

 



[i][i] Phỏng theo ư của một câu chữ  Nho quen thuộc, “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”.

[ii][ii] “Ta dại ta t́m nơi vắng vẻ” –  Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Đồng Nai 2000.

[iii][iii] Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Đồng Nai 2000.

[iv][iv] Lời tác giả - TQAN, B́a sau.

[v][v] Trả lời Phan Khôi – Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Quyễn Hạ, Phụ lục, trang 433 – Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, 1971.

[vi][vi] “Chủ nghĩa cộng sản có bản chất tội ác” -  Nguyễn Gia Kiểng, Đừng để lịch sử lặp lại – Thông Luận, số 137.

[vii][vii] Đọc diễn văn khai mạc lễ kỷ niệm 2540 ngày sinh của Khổng tử, tháng 10 năm 1989, của Gu Mu, kiến trúc sư của chính sách cải tổ kinh tế của Deng Xiaoping.

[viii][viii] TQAN có một chương bàn về vấn đề “các giá trị châu Á”, một cuộc tranh luận ồn ào hồi giữa những năm 90 mà nội dung chính là tính phổ quát của khái niệm dân chủ và nhân quyền.  “Các giá trị châu Á”, theo tôi, chỉ là mặt ngoài của một vấn đề khác rắc rối hơn: lư luận chính trị phản dân chủ không dựa vào lư thuyết cộng sản mà dựa vào ngụy biện và ḷng tự ái, một vấn đề không c̣n là tranh luận mà đă là một thực tế ở Trung Quốc và Việt Nam.

[ix][ix] Từ Thức – TQAN, Tiếng Nói Của Một Người Không Phải Đạo – Thế Kỷ 21, Số 146.

[x][x] Nguyễn Hữu Liêm – Dân Chủ Pháp Trị, trang 25.

[xi][xi] Theo Diễn Đàn Tin Học.

[xii][xii] Như: dân chủ là người dân làm chủ, điều mà người Việt nghe đă quá quen tai.

[xiii][xiii] Khi viết những điều này tôi thấy cũng nên cáo lỗi với một số tác giả và tác phẩm đă đóng góp nhiều cho lănh vực này, trong đó có chính TQAN. Tuy nhiên chúng ta phải nh́n nhận rằng những cố gắng này vẫn chỉ là muối bỏ biễn.

[xiv][xiv] Nguyễn Hữu Liêm, trích John T. McAlister – Dân Chủ Pháp Trị.

Psend kept free because of these great sponsors.a..

Other Sponsors

electrical connectors, Mangosteen Juice, real estate short sale, Jupiter FL real estate,

Furniture Markdown

Great Deals on furniture - Free Shipping!
Discount Furniture
Daybeds
Metal Beds
Platform Beds
Futons

Y-Net Wireless Internet

Denver area high speed wireless privider.
Colorado High Speed Internet, Wireless Internet Denver, VOIP Denver CO, T1 provider Denver, Denver Wireless ISP , Denver Internet Access,

Dog House Technologies

Doghouse Techonologies is located in Tampa Bay FL and offer professional web design, ecommerce development and custom application design for the internet.
Tampa Bay Web Design, E-Commerce Web Design, Tampa Bay Search Engine Marketing, Tampa Web Hosting, Florida Web Design, Custom Application Development, Search Engine Optimization,